CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TRUNG HOA


Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt


Chúa Nhật 1-10-2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 tôn phong 120 vị Tử Đạo Trung Hoa lên bậc Hiển Thánh. Các Vị đổ máu đào làm chứng cho Đức Tin Công Giáo trong thời gian từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 dưới 3 triều đại: nhà Nguyên (1281-1367), nhà Minh (1606-1637) và nhà Thanh (1648-1907). Trong số 120 vị có 87 vị người Hoa (gồm 5 Linh Mục, 12 nữ tu và 70 giáo dân). 33 vị tử đạo khác là các Thừa Sai Âu Châu (gồm 6 Giám Mục, 19 Linh Mục, 1 tu huynh và 7 nữ tu Phan-Sinh Thừa Sai Đức Mẹ). 86 trong số 120 vị Tử Đạo chịu chết vào năm 1900. Năm 1900 mở ra một trang sử hãi hùng cho Giáo Hội Công Giáo Trung Quốc. Các làng mạc Công Giáo bị bọn giặc Quyền-Phỉ (boxer) hay cũng còn gọi là phiến quân Nghĩa-Hòa-Đoàn nổi lên đốt phá. Các tín hữu Công Giáo bị tàn sát.
Xin giới thiệu 5 Thánh Trung Hoa chịu chết vì Đạo trong năm 1900.

“Tôi là người Công Giáo và sẽ mãi mãi là người Công Giáo”.

Thánh Giuse Mã Thái Thuận hành nghề thầy thuốc tại một làng ở huyện Kinh Châu. Thánh nhân sinh năm 1840 tại huyện Đồng Quang, tỉnh Hà Bắc.

Ông Mã Thái Thuận là vị thầy thuốc vui tính, tận tâm và là tín hữu Công Giáo đạo đức. Mọi người dân trong làng đều quý mến ông. Vào giữa tháng 6 năm 1900, khi cuộc bách hại trở nên dữ dội, ông Mã ẩn trốn nơi gia đình người bạn ngoại giáo. Người bạn cẩn thận dặn dò đủ điều. Ông ta nói: “Anh không được ra khỏi nhà. Nếu chẳng may anh bị bắt, tôi đành chịu không làm được gì giúp anh. Ráng đợi cho đến khi tình thế lắng dịu tôi sẽ đưa anh trở lại làng”. Nhưng ông Mã nói: “Tôi cần đi ra khỏi nhà”. Thấy thế, ông bạn kia căn dặn thêm: “Nếu anh bị bắt, nhớ tìm cách thông báo ngay cho tôi biết để tôi cứu anh. Nhưng trong khi chờ đợi tôi cứu, anh nhớ không được xưng mình là người Công Giáo. Hoặc nếu không muốn trả lời như vậy, anh chỉ nên nói những câu lửng lơ vô thưởng vô phạt như: “Tôi là người luôn làm lành, lánh dữ, ăn ngay ở thật”. Rồi một khi được thả ra, đâu có ai ngăn cấm anh giữ đao!” Ông Giuse Mã Thái Thuận đáp lời bạn:

- “Anh khuyên tôi điều gì kỳ lạ vậy. Tôi là tín hữu Công Giáo thì tôi phải mãi mãi là tín hữu Công Giáo cho đến khi chết chứ!”

Dĩ nhiên sau cuộc đối đáp trên đây, ông Mã nhất định rời chỗ trú ẩn nơi nhà bạn để tìm một chỗ trú ẩn khác.

Nhưng vừa ra khỏi nhà ông Mã đụng ngay bọn giặc Quyền Phỉ .. Lũ giặc nhận ra ông là người Công Giáo. Chúng bắt trói và đưa ông về làng. Dân làng vội chạy đến van xin bọn lính tha chết cho vị thầy thuốc. Bọn lính trả lời: “Tụi tôi chỉ tha nếu ông ấy chịu bỏ Đạo”. Nghe vậy dân làng lại van nài ông Mã bỏ Đạo để được sống. Ông Mã nói lớn tiếng:

- Xin anh em đừng nói vô ích. Tôi là người Công Giáo. Tôi phải trung thành với Đạo Công Giáo cho đến chết!

Bọn lính nhạo cười hỏi ông Mã: “THIÊN CHÚA và Thiên Đàng của ông ở đâu? Ông còn tin không?” Ông Mã trả lời: “Dĩ nhiên còn tin. THIÊN CHÚA là Đấng Tạo Thành trời đất và có Thiên Đàng cho những ai tôn thờ THIÊN CHÚA. Tôi tin vững vàng vào THIÊN CHÚA và nhất định không bỏ Đạo. Nếu các ông khát máu muốn giết tôi, cứ giết đi, tôi sẵn sàng chết”.

Nói rồi ông Mã cất cao giọng đọc kinh Lạy Cha chúng con ở trên Trời. Sau đó ông xin bọn lính cho ông một thời gian để ông cầu nguyện trước khi bị giết. Bọn lính bằng lòng.

Thánh Giuse Mã Thái Thuận bị giết vì đạo ngày 24-6-1900, hưởng thọ 60 tuổi.

“Chúng ta hãy tuân phục thánh ý THIÊN CHÚA!”

Gia đình Công Giáo họ Triệu là dòng họ lập nên làng Bắc Vương Tử, huyện Thâm Châu, tỉnh Hà Bắc. Trong dòng tộc nổi bật thánh Gioan Baotixita Triệu Minh Hy. Ông Hy rất đạo đức: siêng năng lần hạt Mân Côi và đọc Sách Thánh. Ông cũng sẵn sàng rao giảng về Chúa GIÊSU KITÔ cho các người không Công Giáo. Tháng 6 năm 1900 là thời kỳ bọn giặc Quyền Phỉ bắt đạo dữ dội nhất. Nhiều làng Công Giáo bị tàn phá. Làng Bắc Vương Tử cũng chuẩn bị chịu chung số phận. Hai Linh Mục đến giải tội và cử hành Thánh Lễ cho các tín hữu. Hai vị nói thật cho bổn đạo biết rõ tình hình và khuyên mọi người anh dũng làm chứng cho Đức Tin Công Giáo.

Ngày 24-6-1900, bọn giặc tràn vào làng, nhưng các tín hữu bỏ trốn hết. Họ nổi lửa thiêu rụi các căn nhà rồi đuổi theo các tín hữu. Một số lớn nhanh chân thoát khỏi. Chỉ còn nhóm đàn bà trẻ em, vì quá mệt mỏi và đuối sức, dừng lại dọc đường. Hai anh em nhà họ Triệu cũng dừng lại với họ. Hai ông không thể chạy trốn, bỏ rơi các phụ nữ và trẻ em. Hơn nữa, hai ông muốn giúp họ kiên vững trung thành với Đạo Công Giáo, để cùng nhau tiến về Thiên Đàng, quê hương vĩnh cửu. Họ họp thành nhóm 18 tín hữu: hai anh em Phêrô Triệu Minh Thẩm, 62 tuổi, Gioan Baotixita Triệu Minh Hy, 56 tuổi, 16 phụ nữ và trẻ em.

Khi bọn lính đuổi kịp nhóm tín hữu họ hùng hổ bảo mọi người phải chối Đạo. Nhưng tất cả đồng thanh trả lời: “Chúng tôi muốn lên Trời”. Hai anh em họ Triệu nói:

- Nếu các ông nhất định giết chúng tôi, xin giết trẻ em và phụ nữ trước. Sau đó đến lượt chúng tôi.

Lời xin của hai anh em họ Triệu được bọn giặc Quyền Phỉ chấp thuận. Quang cảnh thật cảm động. Nhiều vị tử đạo mở to mắt nhìn thẳng vào mặt những tên lính khát máu. Hai anh em họ Triệu bị giết sau cùng. Hôm đó là ngày 3-7-1900.

“Đoàn 4 thiếu nữ ngây thơ trong trắng của Hội Nhi Đồng”

Luxia Vương Thành 18 tuổi, Maria Phạm Khôn 16 tuổi, Maria Tề Ngọc 15 tuổi, và Maria Trịnh Tự 11 tuổi là 4 thánh thiếu nữ thuộc cô nhi viện Vương-Gia-La, huyện Kinh Châu. Cô nhi viện sống dưới sự bảo trợ của hội Nhi Đồng Truyền Giáo và dưới sự coi sóc của một Linh Mục Thừa Sai dòng Tên.

Ngày 24-6-1900, bọn giặc đốt phá nhà thờ và giết tín hữu Công Giáo nào họ bắt được. Một số đông thoát khỏi, kể cả bà giám đốc cô nhi viện. Các cô nhi được phân ra từng nhóm nhỏ để chạy trốn. Bọn lính chỉ bắt được 4 thanh thiếu nữ của cô nhi viện này. Họ không giết ngay nhưng đem về trụ sở của bọn giặc Quyền Phỉ.

Một trong các viên chỉ huy xiêu lòng trước vẻ đẹp khả ái của Luxia Vương Thành, thanh nữ 18 tuổi. Ông nghĩ ngay đến chuyện chinh phục cho bằng được cô gái và cưới cô làm vợ. Ông giao cả 4 thiếu nữ cho bà cô ông chăm sóc.

Bà này vui vẻ nhận lời và khuyên các cô hãy từ bỏ Đạo Công Giáo là Đạo nguy hiểm cho mạng sống. Các bà ngoại giáo khác cũng hùa nhau dụ dỗ 4 cô gái bỏ Đạo. Họ chỉ lập đi lập lại một điều đó, nghe đến điếc hai lỗ tai! Cô Luxia Vương Thành mạnh dạn trả lời thay cho 3 em cô nhi nhỏ tuổi hơn mình: “Cháu không bao giờ bỏ Đạo. Bởi vì, bỏ Đạo tức là vong ân với THIÊN CHÚA và với Cha linh hồn cháu cũng như vô ơn với các bà giáo có công dạy dỗ cháu. Vì tình yêu đối với THIÊN CHÚA và đối với các ân nhân, cháu sẽ không bao giờ bỏ Đạo ..”.

Một toán lính Quyền Phỉ sinh lòng ghen ghét với viên chỉ huy. Họ nói: “Chúng ta không có quyền giữ nuôi các người Công Giáo, lại càng không có quyền hỏi cưới họ làm vợ”.

Dân làng nghe vậy liền sợ hãi. Họ giao nộp 4 thiếu nữ để bọn lính đem về làng cũ Vương Gia La. Trên đường đi 3 cô nhi nhỏ tuổi khóc vì sợ, nhưng cô Luxia Vương Thành trấn an các e.

- Đừng sợ. Hãy dâng mọi hy sinh và mạng sống chúng ta cho Chúa. Chỉ còn ít lâu nữa là chúng ta về Thiên Đàng.

Nghe vậy bọn lính nhạo cười và nói những lời đe dọa dữ dằn, thô tục. Cô Luxia nghiêm mặt nói với họ:

- Bây giờ các ông giết tôi, nhưng có ngày các ông sẽ bị THIÊN CHÚA Toàn Năng luận phạt và khi đó, đau khổ của các ông sẽ gấp trăm ngàn lần đau khổ chúng tôi phải chịu ngày hôm nay.

Từ đó, 3 cô nhi nhỏ tuổi không còn sợ hãi nữa. Sau này chính một tên lính trong nhóm đã làm chứng về lòng dũng cảm, tươi vui và đạo đức của 4 thiếu nữ trước khi chết. Cả bốn không ngừng đọc kinh cầu nguyện cho đến khi bị giết vì Đạo Công Giáo.

“Chối Đạo là trọng tội. Tôi là nữ tử Thiên Hoàng, tôi không chối Ngài”.

- Bà Trương à, bà chỉ cần nói một lời vắn tắt bà chối Đạo, đủ để bà được tự do, được sống cùng với ba đứa con nhỏ của bà.

Nhưng bà Trương khẳng khái đáp lại:

- Gia đình cha mẹ tôi Công Giáo. Gia đình nhà chồng tôi cũng vậy. Do đó tôi là người Công Giáo và sẽ mãi mãi là người Công Giáo. Tôi không thể chối Đạo vì đó là trọng tội và tôi lại là nữ tử THIÊN CHÚA”

. Trên đây là lời đối đáp giữa người ngoại làng Nguyên Gia với thánh nữ Têrêxa Trương Hà, góa phụ Công Giáo 36 tuổi. Lời đối đáp đã đưa bà cùng với hai đứa con nhỏ đến cái chết anh dũng vào ngày 16-7-1900.

Thánh nữ Têrêxa Trương Hà sinh năm 1864 tại huyện Ninh Tấn, tỉnh Hà Bắc và kết hôn với ông Trương cùng làng.

Khi bọn giặc Quyền Phỉ nổi lên đốt phá các làng mạc Công Giáo, bà Trương vội đem 3 đứa con nhỏ - 2 gái 1 trai - đi lánh nạn nơi gia đình không Công Giáo quen biết với gia đình bà. Người này cho cả bốn mẹ con trú ẩn dưới hầm đào sâu trong vườn rau. Nơi trú ẩn thật khốn cực. Mùa Hè Trung Quốc vô cùng nóng bức. Cả bốn mẹ con phải ở luôn dưới hầm, đợi trời tối mới ra khỏi hầm, hít thở chút ít không khí mát mẻ.

Thời gian lặng lẽ trôi qua cho đến ngày 16-7, chỗ ẩn của bốn mẹ con bị khám phá. Lý do vì khi đi trốn, bà Trương mang theo con chó trung thành. Con chó thường nằm trên miệng hầm để canh giữ cho bốn mẹ con. Nào ngờ hôm ấy khi thấy mấy tên lính đi lại gần chỗ ẩn, con chó sủa inh ỏi lên tiếng báo động. Bọn lính sinh nghi xông xáo đi tìm và khám phá ra chỗ trú ẩn của bốn mẹ con bà Trương.

Vừa ra khỏi chỗ trú, bà Trương nói ngay với bọn lính: “Bây giờ mấy ông cứ giết tôi đi”. Nhưng bọn lính không giết ngay. Họ lôi cả bốn mẹ con đến một ngôi chùa gần đó và bắt cả bốn mẹ con phải lạy tượng Bụt, như dấu chứng họ chối bỏ Đức Tin Công Giáo. Nhưng bà Trương nhất định không lạy. Bà đứng im như tượng đá. Bà thà chịu chết chứ không thà chối bỏ Thiên Chúa.

Bọn lính tức giận lôi bà Trương ra khỏi chùa. Bà Trương tay ẵm đứa con gái nhỏ tay dắt cậu con trai. Đứa con gái đầu tên Maria, 11 tuổi, nắm chặt áo mẹ. Bọn lính hùng hổ dùng gươm đâm chết bà cùng với hai đứa con nhỏ. Một người không Công Giáo đứng gần đó vội kéo cô bé Maria và mang đi. Mặc cho cô bé dẫy dụa, van xin được chết cùng với mẹ và hai em, người này vẫn nhất định cứu sống Maria. Cô bé là người duy nhất của gia đình còn sống sót và sau này trở thành nhân chứng cho cái chết anh dũng của mẹ.

Cô Maria kể lại rằng: Mẹ tôi không hề sợ phải chết vì Đạo, trái lại, còn ao ước là đàng khác. Mẹ tôi thường nói với tôi: “Những người chết vì bệnh tật, nhiều khi khó được lên Thiên Đàng. Riêng mẹ, mẹ ước ao diễm phúc chết vì Đạo để được lên Thiên Đàng ngay”.

“Đừng chạm đến chúng tôi!”

Làng Công Giáo Phương Gia Trang trong những ngày mùa hè năm 1900 thật náo động. Các tín hữu lo lắng vì tin bọn giặc Quyền Phỉ đang lùng bắt và thẳng tay giết chết bất luận đàn ông đàn bà, già trẻ. Chúng hung hăng như những tên khát máu và cuồng dâm. Các tín hữu chạy trốn sang làng ngoại giáo, trong số có gia đình hai thánh trinh nữ Têrêxa Trần Kim 25 tuổi và Rosa Trần Ái 22 tuổi.

Tuy là hai chị em ruột, cùng có chung lòng nhiệt thành và đạo đức, nhưng tính tình hoàn toàn trái ngược nhau. Trong khi Têrêxa Kim trầm tĩnh, ít nói và nghiêm trang thì Rosa Ái nhanh nhẹn, vui tươi, linh hoạt và đôi khi rất tinh nghịch!

Trên chiếc xe bò chở gia đình chạy trốn, ngoài hai cô Kim và Ái, còn có mẹ, dì và ba anh em họ là Phêrô 17 tuổi, Stêphanô 12 tuổi và Stanislao 9 tuổi. Ngoài ra còn có hai người đàn ông đánh xe bò.

Chiếc xe bò chở nhóm tín hữu Công Giáo chạy trốn từ từ tiến ra khỏi làng cách bằng an vô sự. Ai nấy thầm mong mau đến đích. Nào ngờ dưới ánh trăng mờ của một đêm hè tháng 7, một toán lính gươm giáo xuất hiện và chặn đứng chiếc xe bò. Một tên lính cất tiếng hỏi: “Mấy người đi đâu?” Cô Têrêxa Kim trả lời thay cho tất cả: “Chúng tôi đi sang làng bên cạnh”. Viên đội trưởng la lớn: “Họ là những người Công Giáo đó. Hãy giết hết đi”. Một trong hai người đàn ông đánh xe bò liền phủ phục trước bọn lính và nói: “Đừng giết chết họ. Họ là đàn bà con gái đâu làm gì nên tội!”

Thay cho câu trả lời, tên đội trưởng rút gươm đâm chết ông ta, rồi thẳng tay giết luôn ba cậu trai và hai người đàn bà. Còn lại hai cô Kim và Ái. Bọn lính định lôi hai cô xuống, nhưng hai cô la lớn: “Đừng đụng đến chúng tôi. Để tự chúng tôi xuống xe”. Câu nói cứng rắn đanh thép khiến bọn lính phải vâng lời.

Vừa xuống khỏi xe, hai cô quì ngay xuống đất như chờ đợi giây phút hiến dâng trọng đại. Mấy tên lính thấy hai trinh nữ trẻ đẹp liền đổi ý, không muốn giết chết. Tên đội trưởng nói: “Hai cô theo chúng tôi và sẽ được cứu sống”. Nghe hắn nói, hai cô hiểu ngay cuộc sống trinh khiết của mình sẽ gặp hiểm nguy. Hai cô quì yên tại chỗ lớn tiếng kêu cầu:

- Lạy Chúa GIÊSU, xin cứu chúng con. Lạy Mẹ MARIA Rất Thánh, xin phù hộ gìn giữ chúng con.

Một tên lính đứng gần cô Rosa Ái, giơ tay định lôi cô đi, nhưng cô Ái dùng hết sức mạnh giơ tay tát cho tên lính một cái tát “tá hỏa tam tinh”! Tên lính liền xô cô té xuống và dùng gươm giết chết cô ngay tức khắc. Cô Rosa Ái trút hơi thở cuối cùng khi hai tay giơ lên cao và miệng thì thầm danh thánh: “GIÊSU! GIÊSU!”

Còn lại một mình cô Têrêxa Kim. Cô Kim vốn tính nhút nhát. Cô sợ hãi và nói với mấy tên lính: “Xin đừng giết tôi. Xe bò này và tất cả tiền của tôi có, tôi xin trao cho các ông, nhưng đừng giết tôi”. Tên đội trưởng nói: “Được rồi. Vì cô sợ nên cứ theo chúng tôi, chúng tôi không giết cô đâu”. Nghe vậy, cô Têrêxa Kim bỗng trở nên can đảm.Cô đang đứng trước một chọn lựa. Không phải giữa tiền của và sự sống, nhưng là giữa sự sống và đức trinh khiết. Cô kêu cầu danh thánh Chúa GIÊSU hai ba lần rồi nói với mấy tên lính: “Không. Tôi không theo các ông, cứ giết tôi đi!” Thế là bọn lính dùng gươm giết chết cô như đã giết chết trọn gia đình cô.

(Celestino Testore, S.I, “Sangue e Palme e Corone sul Fiume Giallo”, Curia Generalizia della Compagnia di Gesù, 1955).