Thiên Thần Bản Mệnh

by Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

Linh Mục Công Giáo tên Lamy kể lại. Một phụ nữ Công Giáo đạo đức xin tôi đến ban bí tích Xức Dầu Thánh cho chồng bà. Ông đau nặng, nhưng chưa hẳn ở vào giai đoạn cuối đời. Dầu vậy, bà ước ao cho chồng được lãnh nhận Bí Tích Bệnh Nhân khi còn tỉnh táo. Bà tự nhủ:
"Đâu ai biết được giờ chết sẽ xảy đến thình lình như thế nào!".
Tôi nhận lời đến ngay, nhưng không mang theo dầu thánh, sợ gây hoảng sợ cho người bệnh. Lúc đến thăm, tôi ngạc nhiên khi thấy chính ông chồng ngỏ lời xin tôi ban phép bí tích sau cùng cho ông. Tôi vội vàng ra về và hứa sẽ trở lại ngay, mang theo Dầu Thánh. Bà vợ nói với tôi:
- "Thưa cha, con khép hờ cánh cửa ra vào. Khi nào đến, xin cha cứ tự tiện đẩy cửa vào nhà".
Nhà hai ông bà ở trong một chung cư nơi lầu 6. Vào thời kỳ đó, các chung cư chưa có thang máy.

Một giờ sau, tôi bước vội lên cầu thang nhưng vô ý không tính xem mình đang ở lầu mấy. Bất ngờ tôi thấy trước mặt một cánh cửa khép hờ. Tôi đẩy nhẹ cửa bước vào. Một người đàn ông đang nằm trên giường, không giống người đàn ông lúc nãy, nhưng tình trạng bệnh hoạn lộ vẽ trầm trọng rõ ràng. Tôi lúng túng xin lỗi và chào thăm ông. Không ngờ, người bệnh như tỏ dấu hài lòng trông thấy một linh mục Công Giáo. Ông nói ngay:
- "Cha có biết không? Từ một tuần nay, con nài nĩ nhà con mời một linh mục đến cho con gặp. Nhưng nhà con cương quyết từ chối. Bởi lẽ cả hai vợ chồng chúng con đều là kẻ vô thần. Riêng con, ý nghĩ biết mình sắp chết khiến con kinh hoàng. Con liền tìm cách trở về với đức tin con nhận lãnh trong thời thơ ấu. Nhà con không đồng ý với con". Nhà con nói:
- "Hễ là kẻ vô thần thì phải vô thần cho đến chết! Không có chuyện 'tôn giáo nhảm nhí' vài giây phút cuối đời!". Thấy nhà con một mực từ chối, con liền quay sang khẩn khoản nài van Thiên Thần Bản Mệnh con cứu giúp. Con nhớ lại bài học giáo lý ngày con còn nhỏ về sự trợ giúp của Thiên Thần Hộ Thủ".

Và Thiên Thần Bản Mệnh đã ra tay cứu giúp. Bà vợ của ông vừa ra khỏi nhà, nhưng quên đóng cửa lại. Còn tôi, tôi lại đi lộn cửa, vào nhằm nhà của ông. Tôi vui mừng nghe câu chuyện ông vô thần vừa kể. Tôi giúp ông dọn mình nhận lãnh các bí tích sau cùng. Tôi trao cho ông Mình Thánh Chúa làm của ăn đàng.
Xong xuôi đâu đó, tôi cẩn thận khép kín cửa lại và tiếp tục leo cầu thang lên lầu 6, nơi người bệnh thứ nhất đang chờ đợi tôi. Vừa đi tôi vừa đọc kinh cầu cùng Thánh Thiên Thần Bản Mệnh: "Lạy Thiên-Thần Chúa là đấng gìn giữ con. Xin Thiên-Thần soi sáng tâm trí con, gìn giữ trái tim con, nâng đỡ thân xác con và hướng dẫn con, vì con được Tình Yêu Thiên Quốc giao phó cho Thiên-Thần chăm sóc. Amen".

(René Lejeune "Les Anges: Armée secrète du Ciel", Éditions du Parvis, 1998, trang 91-93).

Thiên Thần Bản Mệnh 1

Khi còn trẻ, tôi có một sắc đẹp "nghiêng thành đổ nước". Tôi thích dạo chơi đây đó, khoe khoang sắc đẹp. Mỗi tháng vào tối thứ bảy, tôi đến vũ trường để nhảy nhót. Nơi tôi sống là Lorraine, Đông Bắc nước Pháp. Thành phố nhỏ nên mọi người đều biết nhau. Do đó, giới hâm mộ sắc đẹp của tôi thật đông đảo. Mọi người thi nhau mời tôi lên sàn nhảy. Tôi rất ghét điệu "tango", vì nhiều chàng trai cứ ôm sát người tôi cách bất nhã và thiếu đoan trang. Đặc biệt có một thanh niên, luôn quấn quít bên tôi. Dầu chàng đẹp trai và luôn tỏ ra lịch thiệp, tôi vẫn không thích nhảy chung với chàng. Lý do vì chàng kiêu kỳ và hay bám sát tôi.

Buổi tối nọ, chàng nổi máu "bốc đồng" nâng ly mời tôi uống "champagne" loại hơi mạnh. Chàng nài nĩ mời tôi ly thứ hai, rồi ly thứ ba. Đầu óc tôi bắt đầu quay cuồng, mắt tôi chớp lóe loạn xạ. Chàng đề nghị đưa tôi về nhà. Trên đường đi, chàng đổi ý, mời tôi ghé nhà chàng, xem một cái gì đó thật hấp dẫn. Chàng trọ nơi cư xá dành cho các thanh niên độc thân. Bị tính tò mò kích thích, tôi dại dột nhận lời. Vào phòng, chàng khoe tôi xem tập sưu tầm tem, trong đó có một bộ tem đáng giá bạc triệu, bạc tỉ. Tôi không chơi tem nên không hiểu biết giá trị ra sao. Bỗng chốc, đôi mắt chàng sáng lên một tia nhìn kỳ lạ. Chàng nhẩy bổ đến và lôi tôi vào giường của chàng. Tôi chỉ còn một phương thế duy nhất: kêu cứu. Dùng trọn sức lực, tôi hét lớn: "Lạy Thánh Thiên Thần Bản Mệnh con, xin mau tới giúp con!". Tức khắc, có tiếng đập mạnh nơi cửa. Người thanh niên buông tôi và chạy ra mở cửa. Chàng nhìn quanh quất: Không thấy ai hết! Lợi dụng lúc sơ hở, tôi phóng người ra khỏi phòng và chạy một mạch về nhà. Thật hú hồn: tôi thoát được kẻ vũ phu, tránh khỏi miệng sư tử trong đường tơ kẽ tóc!

Biến cố trên đây thay đổi hẳn cuộc đời tôi. Tôi tin tưởng vững chắc rằng, buổi tối hôm đó, chính Thánh Thiên Thần Bản Mệnh đã cứu tôi. Năm ấy tôi lên 18 tuổi và chưa bao giờ biết đến đàn ông. Hai năm sau, tôi may mắn quen biết một thanh niên, người sẽ trở thành phu quân tôi và hiền phụ con cái tôi. Trong vòng gần 50 năm trời, chúng tôi sống bên nhau thật hạnh phúc.

Suốt đời, tôi vô cùng ghi ơn cha sở. Ngài là vị linh mục thánh thiện. Trong tuổi thơ, tôi đã từng nghe ngài giảng về sự hiện hữu của các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh. Ngài cũng dạy chúng tôi thường xuyên đọc lời kinh, cầu cùng Thánh Thiên Thần Bản Mệnh: "Lạy Thánh Thiên-Thần Chúa là đấng hộ thủ con. Xin Thánh Thiên-Thần soi sáng tâm trí con, gìn giữ trái tim con, nâng đỡ thân xác con và hướng dẫn con, vì con được Tình Yêu Thiên Quốc giao phó cho Thiên-Thần chăm sóc. Amen".
(René Lejeune, "Les Anges: Armée secrète du Ciel", Éditions du Parvis, 1998, trang 59-60).

Thiên Thần Bản Mệnh 2

Chị Maria Antonia, người Ba-Tây (Brazil), thuộc dòng Nữ Phan-Sinh Bác Ái và Đền Tạ. Tên thật là Cecilia Cony. Chị sinh ngày 4-4-1900 và qua đời ngày 24-4-1939, trong hương thơm thánh thiện. Trước đó, vì nhận ra các nhân đức anh hùng của chị, các Bề Trên ra lệnh cho chị viết Hồi Ký cuộc đời chị. Xin trích thuật phần chị kể lại lòng yêu mến Chúa GIÊSU và tin tưởng nơi Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

Con luôn luôn theo học lớp giáo lý do nữ tu Irène dạy. Ngày qua ngày, con cảm thấy lớn lên trong con niềm ao ước được rước Chúa GIÊSU vào lòng. Cùng lúc, con gớm ghét tội lỗi, vì tội xúc phạm và làm buồn lòng Thiên Chúa Nhân Lành.

Kể từ đó, cứ mỗi buổi sáng thức dậy, con bắt đầu cầu xin ngay với Thánh Thiên Thần Hộ Thủ con rằng: “Lạy Thánh Thiên Thần Bản Mệnh dấu ái con, xin hộ phù con trong ngày hôm nay, hầu con không làm điều gì mất lòng Chúa. Amen”.

Lời kinh trên do chính con đặt ra. Con đã đọc suốt trong cuộc đời con, kể từ khi nữ tu Irène kể cho chúng con nghe chuyện Chúa GIÊSU phải chết như thế nào vì tội lỗi của tất cả mọi người. Con nhớ rõ vào dịp ấy, tư tưởng sau đây ghi khắc trong con rằng: “Mỗi tội người ta phạm là một cái gai nhọn đâm thủng trán Chúa GIÊSU”, hoặc: “Nếu người ta phạm một tội ngay sau khi rước Chúa GIÊSU, tức là người ta trục xuất Chúa cách vũ phu ra khỏi lòng mình và để chỗ cho quỷ dữ thay vào”.

Không biết bao nhiêu lần con đã sẵn sàng lấy gai nhọn đâm thủng trán Chúa. May mắn thay, Thánh Thiên Thần Bản Mệnh con luôn kịp thời chặn đứng con. Chính vì lý do ấy, nẩy sinh trong tâm hồn con niềm tin tưởng vừa dịu dàng vừa vững chắc nơi sự trợ giúp của Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

Vào một buổi sáng, con theo các chị lớn cùng với mấy nhỏ bạn và các chị giúp việc đi dạo chơi nơi vườn cây ăn trái. Chị giúp việc Acacia giữ tiền mua trái cây. Chúng con mang theo giỏ để đựng.

Chúng con đến vườn một người đàn ông đang mang cuốc trên vai. Ông ta bỏ cuốc xuống và vừa hái trái cây vừa trò chuyện với các chị lớn. Thế là mấy nhỏ bạn con tha hồ hái đủ thứ trái: nào là đào, nào là mận và bỏ đầy giỏ. Riêng cái giỏ nhỏ bé của con vẫn còn trống trơn. Khi vừa nhận ra mấy nhỏ bạn con hái trái ngon lành, con cũng cùng lúc trông thấy đàng sau lưng con một cây đào với các cành cây trĩu nặng trái, sà thấp sát mặt đất.

Con tự nhủ: Sao mình lại không hái mấy trái này? Nghĩ xong, con liền giơ tay hái. Vừa khi mấy ngón tay con chạm đến vỏ trái đào láng như nhung, con liền nghe lời nhắc nhở nhẹ nhàng êm ái của Thánh Thiên Thần Bản Mệnh con. Cánh tay con giơ lên bị giữ lại và bị bắt buộc phải hạ xuống bởi một bàn tay vô hình. Con cảm nhận rõ ràng cái động chạm của bàn tay này, y như có một người đang đứng bên cạnh con. Con cũng nghe rõ ràng tiếng nói của Thánh Thiên Thần Bản Mệnh con, y như con nghe tiếng nói của các chị con vậy.

Con hối hận ngay về tội xấu xa con suýt phạm. Con cảm thấy đau đớn vì nơi vầng trán Chúa GIÊSU Nhân Lành con suýt đâm thêm một gai nhọn.

Tối đến, lúc về nhà, con khóc lóc cay đắng và con xin lỗi cùng Chúa GIÊSU, Đức Mẹ và Thánh Thiên Thần Bản Mệnh con.

“Này Ta sai thiên sứ đi trước con, để gìn giữ con khi đi đường và đưa con vào nơi Ta đã dọn sẵn. Trước mặt thiên sứ, hãy ý tứ và nghe lời Người. Đừng làm cho Người phải chịu cay đắng, Người sẽ không tha lỗi cho các con, vì danh Ta ngự trong Người. Nếu thực sự con nghe lời thiên sứ, nếu con làm mọi điều Ta nói, Ta sẽ trở thành kẻ thù của kẻ thù con, đối phương của đối phương con” (Xuất Hành 23,20-22).

(Cecilia Cony, “Je Dois Raconter Ma Vie”, Editions Téqui, 1988, trang 32-34).

Thiên Thần Bản Mệnh 3


Nữ ký giả người Mỹ Hope Mac Donald ghi lại chứng từ về sự trợ giúp của Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

Năm ấy, chị Marilyn lên 8 còn tôi lên 4. Vào một buổi sáng, cha mẹ tôi đưa chị tôi đến trường như thường lệ. Nhưng một giờ sau, tôi trông thấy cha mẹ bồng chị Marilyn về nhà, mình đầy máu và vết bầm. Cha mẹ tôi đặt chị trên chiếc ghế trường kỷ trong lúc chờ đợi bác sĩ. Khi bác sĩ đến, ông bà kể cho bác sĩ nghe diễn tiến tai nạn như thế này: “Khi băng qua đường để vào trường, bé Marilyn bất ngờ bị một chiếc xe hất tung lên không rồi rơi xuống vệ đường, lăn mấy vòng đến một cống nước. Chúng tôi bất lực nhìn bé lăn nhanh và chờ đợi bé bị rơi hẳn xuống cống. Không ngờ, khi lăn đến miệng cống, bé Marilyn nằm yên ở đó. Chúng tôi vội vàng chạy đến. Cho đến lúc này đây, chúng tôi vẫn không hiểu được: làm sao bé có thể dừng ngay trên miệng cống, mà không rơi hẳn xuống cống, như đáng lý phải xảy ra, vì bé lăn với một tốc độ thật nhanh??? Quả thật, chúng tôi không thể nào hiểu được!!!”

Cha mẹ tôi không hiểu, còn chị Marilyn lại ngạc nhiên khi thấy cha mẹ không hiểu. Chị đơn sơ nói: “Ủa, Ba Má không thấy gì hết sao? Ba Má không thấy Thiên Thần cao lớn lộng lẫy đứng ngay nơi miệng cống sao? Chính Thiên Thần đưa tay ngăn chặn, không cho con rơi xuống cống!”

.. Câu chuyện thứ hai do bà Karen Hills, tín hữu Công Giáo người Mỹ kể lại.

Khi bé gái tôi lên 7 và bé trai lên 9, cả gia đình chúng tôi đi chơi một ngày ngoài trời nơi vùng núi của bang Colorado. Hai đứa trẻ nô đùa bên dòng suối. Bỗng bé trai hét lên kinh hoàng. Vợ chồng chúng tôi quay lại thì thấy bé gái rơi xuống dòng nước đang chảy. Bé rơi đầu xuống trước và hai tay bám chặt vào bờ suối. Chồng tôi vội chạy đến và đưa bé ra khỏi nước.

Trên đường về nhà, tôi bồng bé trên tay và thì thầm vào tai bé: “Mẹ thật hãnh diện về con. Con đã biết can đảm đương đầu với thử thách. Vậy từ nay, mỗi khi gặp khó khăn, con đừng bao giờ .. lùi bước con nhé!” Tôi giảng luân lý cho bé y như một người lớn, bởi lẽ tôi quá vui mừng khi thấy bé thoát hiểm nguy nhờ biết giữ điềm tĩnh! Thế nhưng, bé ngạc nhiên ngước mắt nhìn tôi và nói: “Bộ Má không trông thấy 3 Thiên Thần tí hon đến giúp con sao? Chính các Thiên Thần bảo con bám chặt vào bờ và nhờ đó, con không sợ hãi gì hết!”

.. Câu chuyện thứ ba do một phụ nữ Công Giáo người Pháp thuật lại.

Bà Ngoại tôi tên thánh là Maria. Khi tôi còn bé, Ngoại thường nói cho tôi nghe về các Thánh Thiên Thần, đặc biệt là Thánh Thiên Thần Bản Mệnh. Một ngày, Ngoại kể cho tôi nghe câu chuyện có thật, xảy ra lúc Ngoại còn nhỏ.

Năm ấy Ngoại lên 6 tuổi. Bác gái Madeleine hàng xóm đến xin phép mẹ cho Ngoại theo Bác ra đồng cho có bạn, trong khi Bác cắt lúa mì. Mẹ đồng ý. Ngoại theo Bác Madeleine ra đồng với bé Béatrice, bé tí teo, còn nằm trong nôi. Đến nơi, Bác Madeleine cho bé Béatrice bú. Bác nói: “Như thế bé Béatrice sẽ ngủ yên và chúng ta an tâm làm việc”. Cho bú xong, Bác đặt bé trong nôi, phủ chăn lại rồi đem đặt bé dưới bóng cây mát. Bác và Ngoại làm việc khoảng một giờ bỗng có tiếng cánh chim đập thật lớn, khiến cả hai cùng ngước mắt nhìn lên. Một con chim khổng lồ - có lẽ phượng hoàng - bay lượn trên đầu hai người. Đang đảo qua đảo lại, con chim bỗng bay sà thật nhanh xuống chiếc nôi bé Béatrice đang ngủ. Chim dùng mỏ và các móng vuốt, kẹp bé Béatrice rồi bay lên mang đi mất hút tận chân trời ..

Bác Madeleine và Ngoại hoàn toàn bất lực nhìn theo bóng chim. Còn đang thất kinh hồn vía ngước nhìn trời cao, bỗng Ngoại nghe tiếng rú thất thanh, xé tan bầu khí im lặng. Đó là tiếng thét của Bác Madeleine. Bác rú như một người điên. Phần Ngoại, Ngoại liền quỳ xuống và cầu khẩn: “Ôi lạy Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của con, xin Thánh Thiên Thần cứu giúp chúng con với!” Nghe tiếng Ngoại tha thiết cầu khẩn như thế, lạ lùng thay, Bác Madeleine bỗng lấy lại bình tĩnh. Bác cũng quỳ gối xuống van xin: “Lạy Thánh Thiên Thần Bản Mệnh, xin cứu giúp chúng con, xin cứu giúp chúng con!”

Tức khắc, con chim phượng hoàng tái xuất hiện. Chim bay đảo một vòng trên đầu hai người rồi nhắm thẳng chiếc nôi, chim bay sà xuống đặt bé Béatrice an toàn trở lại trong nôi.

Bác Madeleine vội vã chạy đến bên nôi, bồng bé Béatrice trên tay và miệng không ngừng kêu lên: “Con xin cám ơn Chúa, cám ơn các Thánh Thiên Thần”. Trong cơn vui mừng ghi ơn khôn tả, bác Madeleine chỉ biết lập đi lập lại có thế.. Phần Ngoại, vì được chứng kiến tận mắt phép lạ cả thể như thế, nên suốt đời, Ngoại luôn luôn đặt trọn lòng tin tưởng nơi sự phù giúp của Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

Ngoại tôi qua đời năm 1957. Ngoại ra đi êm ả và nhanh chóng. Trước đó, Ngoại còn căn dặn mẹ tôi nhớ chưng hoa tươi trước tượng Thánh Cả GIUSE, vào ngày 19 tháng 3, lễ kính Thánh Cả.

(Sophy Burnham, “Le Livre des Anges”, Editions Marabout, 1994, trang 62+80 + ”Le Ciel Parmi Nous”, Editions Bénédictines 1997, trang 134-136).

Thiên Thần Bản Mệnh 4


Số ra ngày 24-12-1993, tờ Thời Báo của thành phố Hambourg, Bắc Đức, đăng tải kết quả cuộc thăm dò nơi các học sinh tiểu học, về việc các em có tin nơi sự hiện hữu của các Thánh Thiên Thần không. Sau đây là các câu trả lời đơn sơ theo sự hiểu biết nhỏ bé, nhưng ẩn chứa niềm tin nơi thế giới vô hình có Thiên Chúa và các Thánh Thiên Thần.

Bé Crista nói: Thiên Thần mặc chiếc áo thật dài lấp lánh và trên đầu có vòng ánh sáng mà người ta gọi là hào quang. Thiên Thần thổi sáo hoặc kéo vĩ cầm. Đôi khi, Thiên Thần chỉ cầm nơi tay một cây nến. Phần em, suốt đời em sẽ tin nơi sự hiện hữu của các Thánh Thiên Thần.

Bé Nina nói: Thiên Thần chơi banh hoặc các trò chơi khác. Các Thiên Thần sống với Thiên Chúa trên Thiên Đàng, không cãi nhau bao giờ và không ngừng ca hát chúc tụng Chúa.

Bé Owe nói: Thiên Thần Noel là Thiên Thần tháp tùng Ông Già Noel và giúp Ông Già Noel trong việc phát quà Giáng Sinh. Nhưng nhất là, có Thiên Thần Bản Mệnh. Thiên Thần Bản Mệnh là Vị thường giúp đỡ em, đặc biệt khi em đứng trên một tấm ván và cảm thấy mình sắp bị ngã.

Bé Cord nói: Khi Thiên Thần Bản Mệnh ở bên cạnh em, em có thể làm bất cứ điều gì. Với Thiên Thần Bản Mệnh, em cảm thấy mình hùng mạnh. Thiên Thần Bản Mệnh giúp em có nhiều can đảm.

Bé Stefanie nói: Thiên Thần giúp đỡ mọi người. Thiên Thần luôn dễ thương, không nhăn nhó khó chịu bao giờ. Thiên Thần thật đẹp. Khi một người qua đời, Thiên Thần đem người đó lên Thiên Đàng.

Bé Anna-Christine nói: Thiên Thần Bản Mệnh là Vị phải làm việc nhiều nhất. Thiên Thần canh chừng con nít cũng như người lớn, khi họ chạy băng ngang qua đường mà không cẩn thận nhìn trước nhìn sau.

Bé Linda nói: Thiên Thần chỉ làm việc thiện. Thiên Thần giúp đỡ những người đang gặp các vấn đề khó khăn. Các Thiên Thần là bạn hữu của Thiên Chúa.

Bé Rebecca nói: Các Thiên Thần sống trên tầng mây, trong gia đình với Thiên Chúa. Thiên Thần lành mang hạnh phúc đến cho trẻ em và cha mẹ. Các Thiên Thần không mang giày, nhưng đi chân không.

Bé Desiree nói: Em chưa bao giờ trông thấy Thiên Thần, nhưng em ao ước ngày nào đó được trông thấy một Thiên Thần. Em nghĩ các Thiên Thần rất ngoan ngoãn dễ thương.

Sau cùng, bé Tanja nói: Có ba hạng Thiên Thần: Thiên Thần Noel, Thiên Thần Bản Mệnh và Thiên Thần Tình Yêu. Thiên Thần mà em thích nhất là Thiên Thần Noel. Trong khi đó Thiên Thần Bản Mệnh theo sát em và gìn giữ em. Còn Thiên Thần Tình Yêu là Thiên Thần giúp cho Ba Má em gặp nhau và lấy nhau, rồi sinh ra em.

(“Reader's Digest Sélection”, Décembre/1995, trang 17-18).

Thiên Thần Bản Mệnh 5

... Ngược dòng thời gian về tháng 7 năm 1944. Hồi ấy Đức quốc đang ở trong tình trạng xôn xao hỗn loạn của thời kỳ gần chấm dứt thế chiến thứ hai (1939-1945). Quân Đồng Minh đổ bộ lên Normandie (Bắc Pháp) tìm cách đánh phá, đẩy lui cùng tiêu diệt trọn quân đức quốc xã. Quân Đức bệ rạt và thất trận nặng nề trên nhiều chiến trường thế giới.

Nơi làng nhỏ ở Bavière (Nam Đức) dân chúng tương đối tạm yên. Trong làng chỉ có vài nông trại với ngôi thánh đường nho nhỏ. Người dân vừa làm việc đồng áng, chăn nuôi, nội trợ vừa thỉnh thoảng ngước mắt nhìn trời. Họ cẩn thận dò xét có biến động có chiến cơ và trực thăng nào bất ngờ xuất hiện không, hầu nhanh chân rút ngay vào nơi trú ẩn. Từ 4 năm qua dân làng luôn sống cảnh phập phồng lo sợ như thế.

Vào một buổi chiều đẹp trời, Helga xách bình sữa nhanh nhẹn vào rừng hái trái dại. Helga là thiếu nữ đồng quê duyên dáng ở lứa tuổi 15. 15 tuổi nhưng Helga đã có vóc dáng cao lớn đẫy đà như bao thiếu nữ Đức cùng tuổi. Helga biết rõ khu rừng, thuộc lòng nơi nào có những đám phúc-bồn-tử và dâu dại mơn mởn, thơm phức!

Cô tiến thẳng đến chỗ quen thuộc. Khi đến nơi Helga ngỡ ngàng khám phá ra “ai đó” đánh hơi trước nên đã hái trọn đám dâu dại ngon lành! Tuy nhiên, cô thiếu nữ tràn đầy niềm vui và nhựa sống không thất vọng! Cô biết rõ còn có nhiều đám dâu dại khác cũng thơm ngon. Chỉ hơi ái ngại là những đám dâu ấy lại ở mãi trong rừng sâu. Không do dự lâu Helga nhanh nhẹn đi thẳng vào rừng .. Đang nhẹ nhàng tiến bước bỗng Helga nghe có tiếng động đâu đó không xa. Cô gái giật mình dừng lại nghe ngóng. Tiếng động đến gần và một người đàn ông xuất hiện.Nhìn nét mặt Helga hiểu ngay ông ta sẵn sàng làm bất cứ điều ác nào.

Thân mình ốm teo, trong bộ quần áo cũn cỡn, người đàn ông chòng chọc nhìn cô thiếu nữ. Sau một lúc, ông cất tiếng nói trong thứ ngôn ngữ rừng rú đầy căm thù và oán hận: “Mày phải trả giá thay cho mọi người về tất cả những gì tao phải đau khổ trong bao lâu nay!” Đứng im hãi hùng nghe ông ta nói, Helga biết rõ mình sẽ không sống sót khi ra khỏi khu rừng này. Cô cũng biết chắc mình sẽ chết như thế nào, sau khi gánh chịu đủ thứ cực hình ghê tởm nhất.

Ý tưởng duy nhất đến với cô thiếu nữ trong lúc này là lời cầu xin tha thiết dâng lên Thánh Thiên Thần Bản Mệnh. Helga thầm thĩ kêu van:
“Ôi Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của con, xin hãy đến, hãy đến cứu giúp con!”

Đối diện với người đàn ông, Helga hoàn toàn kinh hãi, đứng im như trời tròng. Vừa đăm đăm nhìn cô thiếu nữ ông vừa rút dao găm từ từ tiến đến gần. Có một lúc Helga như trông thấy ông ta tỏ dấu chần chờ. Nhưng rồi ông lại tiếp tục cho đến khi đứng trước mặt cô gái. Ông ta dí con dao vào ngực Helga. Cô gái không nhúc nhích chờ đợi giây phút bị đăm vào ngực.

Bỗng Helga vô cùng ngạc nhiên khi thấy ông ta hạ giọng hỏi dồn:
- Những người này là ai? Hãy trả lời, họ là ai?
Helga chỉ ấp úng nói:
- Tôi không biết! Quả thật, tôi không biết!
Người đàn ông quay lưng, sau khi giơ nắm tay, tỏ dấu đe dọa. Rồi ông biến mất vào rừng sâu.

Hoàn hồn Helga vội vã ra khỏi rừng không còn nghĩ đến chuyện hái dâu dại nữa. Về đến nhà, Helga vui mừng ôm chầm lấy mẹ nức nở khóc. Cô thiếu nữ biết rõ ràng chính Thánh Thiên Thần Bản Mệnh đã cứu cô. Tuy nhiên, Thiên Thần Bản Mệnh không đơn độc mà mang theo nhiều Thánh Thiên Thần khác nữa, bằng chứng người đàn ông lúng túng hỏi: “Những người này là ai? Hãy trả lời, họ là ai?”

Giờ đây bà Helga là mẹ và là bà ngoại, bà nội rồi. Nhưng không một ngày nào qua đi mà bà không nhớ đến và cảm tạ sự trợ giúp của các Thánh Thiên Thần, đã cứu bà thoát hiểm nguy. Toàn gia đình bà cũng đặc biệt tỏ lòng sùng kính các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

Chứng từ thứ hai của bà Marie-Juliette Gilardingười Pháp.

Câu chuyện xảy ra vào năm 1968. Hồi ấy gia đình tôi sống tại thành phố Nice(Nam Pháp). Tôi thường lui tới nhà thờ giáo xứ Đức Mẹ Lên Trời và sẵn sàng phụ giúp công việc lặt vặt. Một ngày, vào Thánh Lễ lúc 6 giờ 30 phút chiều, cha xứ bỗng quyết định tổ chức buổi rước nến trong nhà thờ, trước khi dâng Thánh Lễ. Tôi không nhớ rõ vì lý do gì. Vì không thông báo trước nên tôi được lệnh bán nến cho các tín hữu. Vị linh mục tiến lên bàn thờ và xin mỗi người mua nến để đi kiệu. Mọi người vội vàng chen lấn đến trước bàn bán nến. Ai cũng muốn mua trước và mua nhanh. Tôi chỉ có một mình. Thấy tình cảnh cấp bách tôi liền khẩn cầu Trời Cao kêu xin các Thánh Thiên Thần đến giúp.

Bỗng chốc, một thanh niên trạc 18-20 tuổi đến đứng ngay bên cạnh tôi. Anh từ đâu đến tôi không biết. Anh vận y phục thật tề chỉnh. Quần xám, áo xanh dương, tóc cắt ngắn, trong khi mốt thời trang năm đó là tóc để dài và quần “jean” xé rách tơi tả! Chàng thanh niên không mở miệng nói lời nào. Chàng chỉ giơ tay ra hiệu xin mọi người bình tĩnh, chờ đợi đến phiên mình. Tức khắc mỗi người tự động xếp hàng nối đuôi nhau. Chàng thanh niên trao nến còn tôi thu tiền. Cuộc bán nến diễn ra trong trật tự nhanh chóng. Xong xuôi, tôi định quay sang cám ơn nhưng chàng biến mất. Điều đáng nói là nơi tôi đang đứng không có lối ra. Vậy chàng không thể đi ra mà tôi lại không trông thấy. Sau đó tôi hỏi thăm thì không một ai biết chàng: từ cha sở đến ông từ giúp việc phòng thánh cũng như những người khác, chưa ai một lần gặp chàng! Đối với tôi thì đó là một Thiên Thần, được gởi tới để giúp đỡ tôi.

Câu chuyện thứ ba xảy ra tại Đức vào năm 1943 thời thế chiến thứ hai.

Nơi một trại lao động khổ sai của quân đức quốc xã, các tù nhân trẻ người Pháp thiếu ăn, đói khát cùng cực. Sau một ngày lao động vất vả, mỗi người chỉ nhận được một phần ăn còm, chả thấm vào đâu! Trong khi đó, các nữ tù nhân Ucraine lại nhận được phần ăn dồi dào. Vài phụ nữ Ucraine bằng lòng chia sẻ phần ăn của mình, với điều kiện là các tù nhân Pháp chấp thuận “làm tình” với họ. Vì quá đói, nhiều tù nhân trẻ người Pháp sa chước cám dỗ ..

Nhận rõ hoàn cảnh đáng thương, tù nhân Công Giáo tên Jean Bartoszewski tìm cách liên lạc với nhân viên cai tù người Đức. Ông là tín hữu tin lành. Anh Jean khẩn khoản xin ông ta bí mật tìm cho mình ít bánh mì với thịt để chia cho các bạn đồng tù, hầu tránh cho các bạn khỏi rơi vào cảnh phạm tội lỗi điều răn thứ 6 vì quá đói. Ông chủ có lòng tốt nên nhận lời.

Một buổi tối, sau khi lén lút lãnh phần ăn do ông chủ trao, anh Jean dấu kín trong bị và mang về trại. Chẳng may trên đường anh gặp bọn lính Đức đi tuần. Vô cùng hoảng sợ, anh Jean chỉ biết khẩn cầu Trời Cao cứu giúp. Lạ lùng thay, khi quân lính ra lệnh cho anh mở bị, thì họ chỉ trông thấy toàn là: Thánh Giá, ảnh tượng và tràng hạt! Bọn lính mĩm cười và để anh Jean đi tiếp bằng an.

Vài ngày sau, anh Jean lại gặp bọn lính Đức đi tuần. Anh thất kinh hồn vía và cũng khẩn khoản Trời Cao trợ giúp. Khi bọn lính đến gần, anh nghe rõ tiếng họ ngạc nhiên nói với nhau: ”Ủa, tên tù nhân chúng ta vừa thấy, biến đâu mất rồi?” Và họ đi chung quanh anh mà không trông thấy anh. Thiên Thần Chúa đã giang cánh ngài che phủ anh. Sau một phút chưng hửng, họ tiếp tục đi tuần và anh Jean trở về trại bằng an vô sự. Từ đó, anh Jean Bartoszewski không ngừng cảm tạ lòng nhân từ Thiên Chúa đã sai Thiên Thần Ngài đến trợ giúp anh khỏi cơn nguy biến.

Chứng từ thứ tư do bà Geneviève Peifferttín hữu Công Giáo Pháp kể lại.

Hồi ấy là năm 1944 gia đình chúng tôi sống trong một nông trại. Bé Gioan, con trai đầu lòng của chúng tôi vừa được 9 tháng. Trông bé thật mũm mĩm dễ thương. Ai ai cũng muốn bồng muốn nựng. Một buổi chiều, tôi ngồi dọn thức ăn nơi nhà bếp, có bé Gioan nằm chơi bên cạnh. Trông thấy miếng bơ ngon, tôi cắt một miếng nhỏ và đút cho bé ăn. Nhưng tôi lại vô ý không nếm thử xem bơ ngon ra sao.

Sáng hôm sau bé Gioan không thức giấc vào giờ thường lệ. Linh tính có điều không lành tôi vào phòng xem con ra sao. Tôi kinh hoàng khi thấy toàn thân bé nóng bừng. Cùng lúc bé bị tiêu chảy xanh nhờn. Tôi tức tốc mời bác sĩ đến. Chẩn bệnh xong bác sĩ muốn biết tôi cho bé ăn gì chiều hôm qua. Tôi sực nhớ có cho con nếm bơ. Bác sĩ muốn xem miếng bơ ra sao. Khi tôi đưa bơ ông liền nếm thử rồi nói: Bơ này đã quá hạn. Nó có thể trở thành thuốc độc. Bây giờ bà nên cho bé uống nước cháo ...

Khi ra đến sân, bác sĩ gặp thân phụ tôi, ông buột miệng nói: “Sáng mai, chắc là cháu ông sẽ không còn sống” .. Nhưng câu nói này, cha tôi chỉ lập lại khi đã tai qua nạn khỏi.

Bệnh tình bé Gioan mỗi lúc một nặng thêm. Chúng tôi đang giữa mùa cắt lúa mì. Vào thời kỳ đó, chưa có máy móc, nên tất cả mọi việc phải làm bằng sức người. Chiều đến nhà tôi mệt đừ đi ngủ sớm. Tôi đành để chàng ngủ yên không bận tâm lo lắng. Còn lại một mình, tôi ngồi canh thức bên cạnh con. Tôi đau đớn xé nát cõi lòng vì bị dằn co giữa hai ý nghĩ: hoặc bỏ đi để khỏi phải nhìn con từ từ trút hơi thở cuối cùng, hoặc ngồi lại vì con không sống bao lâu nữa. Tôi trải qua một đêm kinh hoàng bên cạnh đứa con hấp hối.

Sáng hôm sau bà bạn láng giềng đến thăm bé Gioan. Vừa trông thấy bé, bà chạy mất và nói: “Tôi không thể chứng kiến cảnh tượng đau lòng này”. Chính lúc đó, tôi nghe tiếng Thiên Thần Bản Mệnh nhắc nhở: “Hãy cầu nguyện cùng Đức Mẹ Lộ Đức”. Tôi liền quỳ xuống cạnh chiếc giường bé nhỏ và cầu nguyện cùng Trinh Nữ Rất Thánh MARIA như sau: “Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, xin cho con con được sống và con sẽ dâng con con cho Mẹ, để nó trở thành linh mục, nếu Mẹ muốn”. Cầu nguyện xong, tôi đọc Kinh Cầu Đức Mẹ Lộ Đức. Đọc vừa hết Kinh Cầu, tôi bỗng thấy bé Gioan ngồi dậy trên giường. Mặt bé hồng hào và tươi cười nhìn tôi. Bé chụp lấy chiếc khăn hai màu trắng xanh đang để trên giường và bắt đầu nô đùa với khăn..

Vô cùng mừng rỡ, tôi chạy như điên ra chỗ nhà tôi đang làm việc và nói như hét: “Bé Gioan được lành bệnh. Bé Gioan được khỏi rồi. Đức Mẹ Lộ Đức đã chữa bé lành!” Chiều đến, khi công việc xong xuôi, chồng tôi đến nhà vị bác sĩ và nói: “Bác sĩ nên đến thăm bé Gioan”. Ngỡ ngàng một giây ông nói: “Sao, anh nói sao? Bé Gioan không chết à?”

Không. Bé Gioan không chết. Từ sau tai nạn ấy, bé Gioan trở thành khó nuôi. Thêm vào đó trong thời chiến, chúng tôi thiếu thốn mọi sự, càng làm cho sức khoẻ của Gioan trở nên mỏng manh hơn. Nhưng nhờ ơn Chúa, Gioan không chết, mà vẫn còn sống! Muôn vàn cảm tạ Đức Mẹ Lộ Đức.

(“Le Ciel Parmi Nous”, Editions Bénédictines, 1997).