THÁNH THIÊN THẦN BẢN MỆNH


Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt


... Ngược dòng thời gian về tháng 7 năm 1944. Hồi ấy Đức quốc đang ở trong tình trạng xôn xao hỗn loạn của thời kỳ gần chấm dứt thế chiến thứ hai (1939-1945). Quân Đồng Minh đổ bộ lên Normandie (Bắc Pháp) tìm cách đánh phá, đẩy lui cùng tiêu diệt trọn quân đức quốc xã. Quân Đức bệ rạt và thất trận nặng nề trên nhiều chiến trường thế giới.

Nơi làng nhỏ ở Bavière (Nam Đức) dân chúng tương đối tạm yên. Trong làng chỉ có vài nông trại với ngôi thánh đường nho nhỏ. Người dân vừa làm việc đồng áng, chăn nuôi, nội trợ vừa thỉnh thoảng ngước mắt nhìn trời. Họ cẩn thận dò xét có biến động có chiến cơ và trực thăng nào bất ngờ xuất hiện không, hầu nhanh chân rút ngay vào nơi trú ẩn. Từ 4 năm qua dân làng luôn sống cảnh phập phồng lo sợ như thế.

Vào một buổi chiều đẹp trời, Helga xách bình sữa nhanh nhẹn vào rừng hái trái dại. Helga là thiếu nữ đồng quê duyên dáng ở lứa tuổi 15. 15 tuổi nhưng Helga đã có vóc dáng cao lớn đẫy đà như bao thiếu nữ Đức cùng tuổi. Helga biết rõ khu rừng, thuộc lòng nơi nào có những đám phúc-bồn-tử và dâu dại mơn mởn, thơm phức!

Cô tiến thẳng đến chỗ quen thuộc. Khi đến nơi Helga ngỡ ngàng khám phá ra “ai đó” đánh hơi trước nên đã hái trọn đám dâu dại ngon lành! Tuy nhiên, cô thiếu nữ tràn đầy niềm vui và nhựa sống không thất vọng! Cô biết rõ còn có nhiều đám dâu dại khác cũng thơm ngon. Chỉ hơi ái ngại là những đám dâu ấy lại ở mãi trong rừng sâu. Không do dự lâu Helga nhanh nhẹn đi thẳng vào rừng .. Đang nhẹ nhàng tiến bước bỗng Helga nghe có tiếng động đâu đó không xa. Cô gái giật mình dừng lại nghe ngóng. Tiếng động đến gần và một người đàn ông xuất hiện.Nhìn nét mặt Helga hiểu ngay ông ta sẵn sàng làm bất cứ điều ác nào.

Thân mình ốm teo, trong bộ quần áo cũn cỡn, người đàn ông chòng chọc nhìn cô thiếu nữ. Sau một lúc, ông cất tiếng nói trong thứ ngôn ngữ rừng rú đầy căm thù và oán hận: “Mày phải trả giá thay cho mọi người về tất cả những gì tao phải đau khổ trong bao lâu nay!” Đứng im hãi hùng nghe ông ta nói, Helga biết rõ mình sẽ không sống sót khi ra khỏi khu rừng này. Cô cũng biết chắc mình sẽ chết như thế nào, sau khi gánh chịu đủ thứ cực hình ghê tởm nhất.

Ý tưởng duy nhất đến với cô thiếu nữ trong lúc này là lời cầu xin tha thiết dâng lên Thánh Thiên Thần Bản Mệnh. Helga thầm thĩ kêu van:
“Ôi Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của con, xin hãy đến, hãy đến cứu giúp con!”

Đối diện với người đàn ông, Helga hoàn toàn kinh hãi, đứng im như trời tròng. Vừa đăm đăm nhìn cô thiếu nữ ông vừa rút dao găm từ từ tiến đến gần. Có một lúc Helga như trông thấy ông ta tỏ dấu chần chờ. Nhưng rồi ông lại tiếp tục cho đến khi đứng trước mặt cô gái. Ông ta dí con dao vào ngực Helga. Cô gái không nhúc nhích chờ đợi giây phút bị đăm vào ngực.

Bỗng Helga vô cùng ngạc nhiên khi thấy ông ta hạ giọng hỏi dồn:
- Những người này là ai? Hãy trả lời, họ là ai?
Helga chỉ ấp úng nói:
- Tôi không biết! Quả thật, tôi không biết!
Người đàn ông quay lưng, sau khi giơ nắm tay, tỏ dấu đe dọa. Rồi ông biến mất vào rừng sâu.

Hoàn hồn Helga vội vã ra khỏi rừng không còn nghĩ đến chuyện hái dâu dại nữa. Về đến nhà, Helga vui mừng ôm chầm lấy mẹ nức nở khóc. Cô thiếu nữ biết rõ ràng chính Thánh Thiên Thần Bản Mệnh đã cứu cô. Tuy nhiên, Thiên Thần Bản Mệnh không đơn độc mà mang theo nhiều Thánh Thiên Thần khác nữa, bằng chứng người đàn ông lúng túng hỏi: “Những người này là ai? Hãy trả lời, họ là ai?”

Giờ đây bà Helga là mẹ và là bà ngoại, bà nội rồi. Nhưng không một ngày nào qua đi mà bà không nhớ đến và cảm tạ sự trợ giúp của các Thánh Thiên Thần, đã cứu bà thoát hiểm nguy. Toàn gia đình bà cũng đặc biệt tỏ lòng sùng kính các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.

Chứng từ thứ hai của bà Marie-Juliette Gilardingười Pháp.

Câu chuyện xảy ra vào năm 1968. Hồi ấy gia đình tôi sống tại thành phố Nice(Nam Pháp). Tôi thường lui tới nhà thờ giáo xứ Đức Mẹ Lên Trời và sẵn sàng phụ giúp công việc lặt vặt. Một ngày, vào Thánh Lễ lúc 6 giờ 30 phút chiều, cha xứ bỗng quyết định tổ chức buổi rước nến trong nhà thờ, trước khi dâng Thánh Lễ. Tôi không nhớ rõ vì lý do gì. Vì không thông báo trước nên tôi được lệnh bán nến cho các tín hữu. Vị linh mục tiến lên bàn thờ và xin mỗi người mua nến để đi kiệu. Mọi người vội vàng chen lấn đến trước bàn bán nến. Ai cũng muốn mua trước và mua nhanh. Tôi chỉ có một mình. Thấy tình cảnh cấp bách tôi liền khẩn cầu Trời Cao kêu xin các Thánh Thiên Thần đến giúp.

Bỗng chốc, một thanh niên trạc 18-20 tuổi đến đứng ngay bên cạnh tôi. Anh từ đâu đến tôi không biết. Anh vận y phục thật tề chỉnh. Quần xám, áo xanh dương, tóc cắt ngắn, trong khi mốt thời trang năm đó là tóc để dài và quần “jean” xé rách tơi tả! Chàng thanh niên không mở miệng nói lời nào. Chàng chỉ giơ tay ra hiệu xin mọi người bình tĩnh, chờ đợi đến phiên mình. Tức khắc mỗi người tự động xếp hàng nối đuôi nhau. Chàng thanh niên trao nến còn tôi thu tiền. Cuộc bán nến diễn ra trong trật tự nhanh chóng. Xong xuôi, tôi định quay sang cám ơn nhưng chàng biến mất. Điều đáng nói là nơi tôi đang đứng không có lối ra. Vậy chàng không thể đi ra mà tôi lại không trông thấy. Sau đó tôi hỏi thăm thì không một ai biết chàng: từ cha sở đến ông từ giúp việc phòng thánh cũng như những người khác, chưa ai một lần gặp chàng! Đối với tôi thì đó là một Thiên Thần, được gởi tới để giúp đỡ tôi.

Câu chuyện thứ ba xảy ra tại Đức vào năm 1943 thời thế chiến thứ hai.

Nơi một trại lao động khổ sai của quân đức quốc xã, các tù nhân trẻ người Pháp thiếu ăn, đói khát cùng cực. Sau một ngày lao động vất vả, mỗi người chỉ nhận được một phần ăn còm, chả thấm vào đâu! Trong khi đó, các nữ tù nhân Ucraine lại nhận được phần ăn dồi dào. Vài phụ nữ Ucraine bằng lòng chia sẻ phần ăn của mình, với điều kiện là các tù nhân Pháp chấp thuận “làm tình” với họ. Vì quá đói, nhiều tù nhân trẻ người Pháp sa chước cám dỗ ..

Nhận rõ hoàn cảnh đáng thương, tù nhân Công Giáo tên Jean Bartoszewski tìm cách liên lạc với nhân viên cai tù người Đức. Ông là tín hữu tin lành. Anh Jean khẩn khoản xin ông ta bí mật tìm cho mình ít bánh mì với thịt để chia cho các bạn đồng tù, hầu tránh cho các bạn khỏi rơi vào cảnh phạm tội lỗi điều răn thứ 6 vì quá đói. Ông chủ có lòng tốt nên nhận lời.

Một buổi tối, sau khi lén lút lãnh phần ăn do ông chủ trao, anh Jean dấu kín trong bị và mang về trại. Chẳng may trên đường anh gặp bọn lính Đức đi tuần. Vô cùng hoảng sợ, anh Jean chỉ biết khẩn cầu Trời Cao cứu giúp. Lạ lùng thay, khi quân lính ra lệnh cho anh mở bị, thì họ chỉ trông thấy toàn là: Thánh Giá, ảnh tượng và tràng hạt! Bọn lính mĩm cười và để anh Jean đi tiếp bằng an.

Vài ngày sau, anh Jean lại gặp bọn lính Đức đi tuần. Anh thất kinh hồn vía và cũng khẩn khoản Trời Cao trợ giúp. Khi bọn lính đến gần, anh nghe rõ tiếng họ ngạc nhiên nói với nhau: ”Ủa, tên tù nhân chúng ta vừa thấy, biến đâu mất rồi?” Và họ đi chung quanh anh mà không trông thấy anh. Thiên Thần Chúa đã giang cánh ngài che phủ anh. Sau một phút chưng hửng, họ tiếp tục đi tuần và anh Jean trở về trại bằng an vô sự. Từ đó, anh Jean Bartoszewski không ngừng cảm tạ lòng nhân từ Thiên Chúa đã sai Thiên Thần Ngài đến trợ giúp anh khỏi cơn nguy biến.

Chứng từ thứ tư do bàGeneviève Peifferttín hữu Công Giáo Pháp kể lại.

Hồi ấy là năm 1944 gia đình chúng tôi sống trong một nông trại. Bé Gioan, con trai đầu lòng của chúng tôi vừa được 9 tháng. Trông bé thật mũm mĩm dễ thương. Ai ai cũng muốn bồng muốn nựng. Một buổi chiều, tôi ngồi dọn thức ăn nơi nhà bếp, có bé Gioan nằm chơi bên cạnh. Trông thấy miếng bơ ngon, tôi cắt một miếng nhỏ và đút cho bé ăn. Nhưng tôi lại vô ý không nếm thử xem bơ ngon ra sao.

Sáng hôm sau bé Gioan không thức giấc vào giờ thường lệ. Linh tính có điều không lành tôi vào phòng xem con ra sao. Tôi kinh hoàng khi thấy toàn thân bé nóng bừng. Cùng lúc bé bị tiêu chảy xanh nhờn. Tôi tức tốc mời bác sĩ đến. Chẩn bệnh xong bác sĩ muốn biết tôi cho bé ăn gì chiều hôm qua. Tôi sực nhớ có cho con nếm bơ. Bác sĩ muốn xem miếng bơ ra sao. Khi tôi đưa bơ ông liền nếm thử rồi nói: Bơ này đã quá hạn. Nó có thể trở thành thuốc độc. Bây giờ bà nên cho bé uống nước cháo ...

Khi ra đến sân, bác sĩ gặp thân phụ tôi, ông buột miệng nói: “Sáng mai, chắc là cháu ông sẽ không còn sống” .. Nhưng câu nói này, cha tôi chỉ lập lại khi đã tai qua nạn khỏi.

Bệnh tình bé Gioan mỗi lúc một nặng thêm. Chúng tôi đang giữa mùa cắt lúa mì. Vào thời kỳ đó, chưa có máy móc, nên tất cả mọi việc phải làm bằng sức người. Chiều đến nhà tôi mệt đừ đi ngủ sớm. Tôi đành để chàng ngủ yên không bận tâm lo lắng. Còn lại một mình, tôi ngồi canh thức bên cạnh con. Tôi đau đớn xé nát cõi lòng vì bị dằn co giữa hai ý nghĩ: hoặc bỏ đi để khỏi phải nhìn con từ từ trút hơi thở cuối cùng, hoặc ngồi lại vì con không sống bao lâu nữa. Tôi trải qua một đêm kinh hoàng bên cạnh đứa con hấp hối.

Sáng hôm sau bà bạn láng giềng đến thăm bé Gioan. Vừa trông thấy bé, bà chạy mất và nói: “Tôi không thể chứng kiến cảnh tượng đau lòng này”. Chính lúc đó, tôi nghe tiếng Thiên Thần Bản Mệnh nhắc nhở: “Hãy cầu nguyện cùng Đức Mẹ Lộ Đức”. Tôi liền quỳ xuống cạnh chiếc giường bé nhỏ và cầu nguyện cùng Trinh Nữ Rất Thánh MARIA như sau: “Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, xin cho con con được sống và con sẽ dâng con con cho Mẹ, để nó trở thành linh mục, nếu Mẹ muốn”. Cầu nguyện xong, tôi đọc Kinh Cầu Đức Mẹ Lộ Đức. Đọc vừa hết Kinh Cầu, tôi bỗng thấy bé Gioan ngồi dậy trên giường. Mặt bé hồng hào và tươi cười nhìn tôi. Bé chụp lấy chiếc khăn hai màu trắng xanh đang để trên giường và bắt đầu nô đùa với khăn..

Vô cùng mừng rỡ, tôi chạy như điên ra chỗ nhà tôi đang làm việc và nói như hét: “Bé Gioan được lành bệnh. Bé Gioan được khỏi rồi. Đức Mẹ Lộ Đức đã chữa bé lành!” Chiều đến, khi công việc xong xuôi, chồng tôi đến nhà vị bác sĩ và nói: “Bác sĩ nên đến thăm bé Gioan”. Ngỡ ngàng một giây ông nói: “Sao, anh nói sao? Bé Gioan không chết à?”

Không. Bé Gioan không chết. Từ sau tai nạn ấy, bé Gioan trở thành khó nuôi. Thêm vào đó trong thời chiến, chúng tôi thiếu thốn mọi sự, càng làm cho sức khoẻ của Gioan trở nên mỏng manh hơn. Nhưng nhờ ơn Chúa, Gioan không chết, mà vẫn còn sống! Muôn vàn cảm tạ Đức Mẹ Lộ Đức.

(“Le Ciel Parmi Nous”, Editions Bénédictines, 1997).