Ông nội của tôi



Dân tộc Việt Nam có câu : "Cọp chết để da, người chết để tiếng." Vâng, đúng vậy ! cứ mỗi lần nhắc đến câu tục ngữ này thì tôi thường nghĩ đến ông nội của tôi.

Ông nội của tôi là người gốc ở Ngọc Hội, Chợ Mới, Nha Trang và khi lấy bà nội của tôi, thì về sinh sống ở Võ Cạnh, Bình Cang, Nha Trang. Ông nội của tôi có dáng người thanh cao, khoẻ mạnh và theo tôi nghĩ là thời còn trẻ ông nội của tôi đẹp trai lắm. Ông tôi là người ít nói, và mỗi lần ông nói là rất từ tốn, khiêm nhường, nên mọi người dễ cảm mến.

Cuộc đời của ông nội tôi không có gì đặc biệt như những nhà bác học nổi tiếng hay những nhà chính trị lỗi lạc, nhưng khi ông của tôi nằm xuống vào ngày 27-5-1986 thì đã làm cho biết bao nhiêu người không cầm được nước mắt. Đám tang của ông nội tôi lớn lắm, có lẽ là chưa có đám tang nào trong làng lớn như vậy. Dù năm tháng đã trôi qua, nhưng tên "Người" vẫn còn đó. Nếu quí vị có đến Nha Trang và ghé qua làng Võ cạnh, Bình Cang và quí vị thử hỏi ai đó "Nhà ông Bốn Thuỷ" ở đâu ? thì có lẽ từ một đứa bé cho đến người lớn ai ai cũng đều biết.

Vì sao ông nội của tôi được nhiều người biết đến như vậy? nếu mà trả lời cho câu hỏi này thì chắc là dài dòng lắm, nào ai kể cho xiết cùng. Thôi thì tôi xin hồi tưởng và kể lại cho quí vị nghe một vài mẫu chuyện mà hình ảnh thân thương của ông tôi đã đi sâu vào tâm trí tôi cũng như những người quen biết đến ông tôi.

Ngược dòng thời gian, sau biến cố năm 1975 lúc tôi mới có vài tuổi, thì Má của tôi đã đem năm anh em tôi về sống với ông bà nội ở Bình Cang, vì Ba của tôi bị ở tù cải tạo. Chắc hẳn quí vị vẫn còn nhớ, vào thời gian năm 1977 đến 1979, đất nước Việt Nam rơi vào cảnh đói khổ lầm than thì cuộc sống của gia đình chúng tôi cũng như bao gia đình Việt Nam khác vô cùng cơ cực, với những bữa ăn chỉ toàn là khoai mì, chuối non và bo bo. Nhớ đến lúc này, tôi càng thương mến ông của tôi nhiều hơn, vì hàng ngày từ mờ sáng, Người đã cùng với Má của tôi đi bộ hàng mấy cây số để lên núi "Chín Khúc" làm rẫy, đốn củi và trồng khoai để nuôi sống gia đình, và khi trở về nhà là trời đã tối với một gánh nặng trên vai. Tôi không biết quí vị có bao giờ làm rẫy chưa? vì theo tôi nghĩ là không có cái kế sinh nhai nào khổ bằng cái nghề làm rẫy. Nhiều khi ông của tôi đi bộ hàng chục cây số để chài lưới bắt cá, để làm cho bữa cơm độn khoai mì thêm phần hấp dẫn hơn.

Tôi còn nhớ, nhớ rõ lắm, cứ mỗi bữa ăn tối ông của tôi thường hay kể những mẫu chuyện khôi hài, để cho khung cảnh gia đình tươi vui hơn sau một ngày lao động mệt nhọc. Thỉnh thoảng, ông của tôi kể những câu chuyện ma nghe thật là rùn rợn, để răn dạy anh em của chúng tôi. Ông thường nói rằng: "Dù có đói khổ , mệt nhọc, khó khăn trăm bề , nhưng phải siêng năng đọc kinh, giữ đạo đàng hoàng để ma quỉ khỏi cám dỗ."

Rồi thời gian qua mau, khi tôi lớn lên, tôi đã biết mình có một cá tính giống ông nội lắm, đó là mê đá banh. Tôi được biết là ngày xưa, ông nội của tôi là một cầu thủ xuất sắc và là người Việt Nam duy nhất trong đội tuyển Quân Nhu của Pháp ở Nhatrang. Tôi nhớ mỗi lần đi đá banh, là ông nội tôi luôn luôn đi theo để ủng hộ tôi. Ông là cổ động viên tích cực nhất và chỉ vắng mặt khi nào bị bệnh thôi.

Với xóm làng, ông tôi là một bật trưởng thượng, vì ngoài việc lo cho gia đình, ông tôi còn lo cho xóm làng. Ông nội của tôi thường hay đi thăm viếng những người đau bệnh, cũng như giữ kẻ liệt và mai táng người chết trong xóm làng. Nếu tôi không lầm là mỗi khi trong xóm làng có việc gì quan trọng, thì mọi người thường nghĩ đến ông nội tôi trước tiên. Tôi nhớ có một lần, ông tôi bệnh nặng đang nằm trên giường và có người chạy kêu :" Ông Bốn có người chết đuối" vậy là ông tôi chạy đi cứu ngay. Lần khác, vào một buổi sáng Chúa Nhật, khi cả gia đình tôi đi lễ về đến nhà, thì cả nhà rất ngạc nhiên vì thấy ông nội tôi đi về không có mặc áo. Khi bà nội tôi hỏi, thì ông nội tôi nói "Đi lễ ra gặp một ông ở gần nhà thờ mặc cái áo rách toan đi lễ, nên đã cỡi cho rồi".

Với tôi, hình ảnh ông nội tôi giống như thánh cả Giuse ngày xưa, và hình ảnh để cho con cháu noi theo.

Trước khi kết thúc, tôi xin nói nhỏ cho quí vị nghe là bà ngoại vợ của tôi bây giờ là bạn thân của ông nội tôi.

Xin Cầu Cho Linh Hồn Micae !



Bà nội của tôi

 

Chắc hẳn ai ai trong chúng ta cũng đều biết đến mẹ Têrêsa, một nữ tu bé mọn, nhưng đã làm nên việc cả thảy cho nhân loại nói chung và cho giáo hội hoàn vũ nói riêng.

Nhớ đến mẹ Têrêsa, tôi thường liên tưởng đến hình ảnh của bà nội tôi, vì bà nội của tôi có dáng người trông giống như mẹ Têrêsa với thân hình nhỏ bé, tóc dài ngang lưng và có khuôn mặt tròn phúc hậu.

Theo tôi được biết , bà nội của tôi tuy là một người phụ nữ miền quê ngoại ô của thành phố Nhatrang , nhưng Bà có sự hiểu biết và khôn ngoan hơn những người phụ nữ cùng trang tuổi trong làng Võ Cạnh, giáo xứ Bình Cang. Vì vậy, thời còn trẻ bà nội của tôi được nhiều người giàu có hâm mộ lắm, nhưng Họ đã không vượt qua được sự đạo đức và hiền lành của ông nội tôi.

Thiên Chúa là tình yêu đã thưởng cho Ông bà nội của tôi có tất cả 11 người con, Chúa cất đi hết 2 còn lại 9, trong số đó có một người sống độc thân ( Chú Chín ), một nữ tu ( Cô năm) , một linh mục ( Chú Bốn) và ba của tôi là anh cả trong gia đình.

Bằng đời sống đức tin, lòng bác ái và sự khôn ngoan, bà nội của tôi đã chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục tất cả con cháu đều nên người. Cả cuộc đời của bà nội tôi là sống cho con cháu, vì hàng ngày Bà ở nhà trông nom nhà cửa , chăm sóc và răn dạy đám cháu, trong đó có tôi.

Làm sao tôi quên được những bài học làm người, mà bà nội của tôi hay dạy bảo cho chúng tôi. Bà nội của tôi thường nhắc nhở chúng tôi phải biết kính trên, nhường dưới , và thương yêu nhau. Bà dạy chúng tôi từ cách ăn uống, đi đứng cho đàng hoàng, từng lời nói dạ, thưa với người lớn. Trẻ nhỏ như chúng tôi thì phải biết cúi đầu chào khi có khách đến nhà, và đặc biệt là đời sống đức tin công giáo.

Hình ảnh mà tôi không bao giờ quên về bà nội của tôi là hàng ngày trên tay Bà luôn luôn có tràng chuỗi mân côi để lần hạt khi rãnh rỗi, và Bà luôn đeo chiếc áo Đức Bà trên cổ.

Bà nội của tôi thường hay kể cho chúng tôi nghe chuyện Hạnh Các Thánh, và dạy chúng tôi siêng năn lần hạt mân côi. Bà nội tôi kể rằng cũng nhờ tràng chuỗi mân côi mà ông nội của tôi đã được Việt Minh thả về, và cũng nhờ chiếc áo Đức Bà đã cứu một người thân trong gia đình của chúng tôi, không bị chết đuối (Bị chìm) dưới lòng sông cái Nhatrang.

Có một câu nói của bà nội tôi, mà tôi không bao giờ quên được là Bà không bao giờ để cho con cháu thèm khát , hễ Bà ăn cái gì là con cháu ăn cái đó. Tôi nhớ lúc tôi còn nhỏ, hàng ngày có bà Chín Chè ở gần nhà hay gánh chè đến bán , và mỗi lần Bà nội của tôi không có tiền đủ để mua chè cho tất cả đám cháu chúng tôi, là ngày hôm đó, Bà nhất định không có mua chè để ăn một mình.

Với xóm làng, bà nội tôi là một người rộng lượng và đầy lòng bác ái. Mặc dù gia đình của chúng tôi không giàu có gì, nhưng bà nội của tôi luôn sẵn sàng giúp đỡ cho bất cứ ai đang trong cảnh túng thiếu, không có cơm ăn . Tôi chưa bao giờ thấy bà nội tôi từ chối không cho những người ăn xin, thức ăn hay nước uống, và đây chính là điều mà bà nội của tôi đã sống theo đúng tin mừng Phúc Âm của Chúa "Xin thì sẽ được."

Vào buổi sáng ngày 1 tháng 2 năm 1989, Chúa thương đã gọi bà nội của tôi về với Chúa, sau gần hai năm Bà nằm trên giường bệnh. Tôi tin chắc rằng bà nội tôi đã được Chúa thưởng trên Thiên Đàng, vì bà nội của tôi đã được ơn chết lành y như lời Bà nội tôi hằng cầu xin Chúa và Mẹ Maria.

Xin Cầu Cho Linh Hồn Maria !