TIỂU SỬ LINH MỤC GIUSE NGUYỄN CÔNG NGHỊ

Gia Tộc HỌ NGUYỄN


Kính thưa Đức Giám Mục Địa Phận Nha Trang
Kính thưa Quý Linh mục, Quý tu sĩ nam nữ cùng toàn thể Quý ông bà và anh chị em.

Vào lúc 4 giờ 40 sáng ngày 26 tháng 2 năm 1979, lúc vạn vật vừa tỉnh giấc đi vào sinh hoạt của một ngày mới thì Linh mục Giuse Nguyễn Công Nghị - Tổng Đại diện Giáo Phận Nhatrang đã đi vào một cuộc sống mới: Cuộc sống vĩnh cửu. Từ giây phút này, Giáo phận Nhatrang mang nặng một bầu không khí thương tiếc, thương tiếc một người anh khả kính, một người cha trong giáo phận đã ra đi và ra đi vĩnh viễn.

Sự ra đi quá nhanh chóng và quá đột ngột này đã làm cho Đức Giám Mục, các linh mục trong Giáo phận, cùng toàn thể anh chị em phải bùi ngùi đau xót và không ai có thể cầm được nước mắt...

Giờ đây trong nghi lễ thiêng liêng này, chúng ta cùng nhau ôn lại cuộc sống của Ngài, ôn lại từng quảng đường Ngài đã đi, để hy vọng giữ lại trong tâm hồn của chúng ta những gì có thể gọi là của riêng Ngài.

Linh mục Giuse Nguyễn Công Nghị sinh ngày 23 tháng 12 năm 1914 tại Giáo Xứ Bình Cang, thôn Võ Cạnh, xã Vĩnh Trung, thành phố Nhatrang.

Song thân sinh của Ngài là Ông Micae Nguyễn Văn Phan và Bà Maria Phan Thị Kiển. Cả hai đều là những nông dân hiền lành chất phát, giàu lòng đạo đức, luôn giáo dục con cái mình theo tinh thần phúc âm.

Ngài là anh cả của 5 người em: 4 em trai và 1 em gái. Mồ côi cha mẹ từ năm 12 tuổi - vì quyền huynh thế phụ, ngài phải săn sóc, trông nom các em. Ngài thường khuyên các em phải sống khiêm nhường, chắp nhận mọi nghịch cảnh không ham giàu, và trung thành với Chúa đến cùng.

Dù sớm mất tình thương của cha mẹ, nhưng tình thương của Chúa quan phòng luôn chăm sóc ngài và kêu gọi ngài từ thuở bé; do tính tình đứng đắn, ngay thẳng và đơn sơ của Ngài và do sự bảo trợ của Cố GARRIGUES LIÊM , ngài đã được nhận vào Tiểu chủng viện LÀNG SÔNG (Quy Nhơn) ngày 1 tháng 9 năm1925. Trong những năm sống tại Tiểu chủng viện, ngài đã nêu gương cho các chủng sinh về đức vâng lời, về tinh thần trọng kỷ luật và về óc thông minh hiếu học.

Tám năm sau, ngày 1 tháng 9 năm 1933 Ngài được nhận học tại Đại Chủng Viện Qui Nhơn. Hai năm sau đó, Ngài được chuyển về Tiểu chủng viện Làng Sông làm giám thị giúp việc hướng dẫn những người anh em sau mình. Trong thời gian này Ngài đã truyền lại cho anh em của mình những điều Ngài đã sống: trọng tinh thần kỷ luật và vâng lời. Ngài thường nói: “Ai sống theo kỷ luật là sống theo luật Chúa”.

Sau bốn năm tiếp tục chương trình học tập tại ĐCV Qui Nhơn, lòng thương vô biên của Chúa đã nâng Ngài lên bàn thánh: dâng thánh lễ đầu tiên với chức vụ linh mục ngày 1 tháng 7 năm 1941. Lúc đó Ngài được 27 tuổi. Lòng đạo đức, thánh thiện và khó nghèo của Ngài gia tăng cách đặc biệt kể từ đây, thể hiện trong các công việc Ngài đã đảm nhận trong suốt khoảng thời gian 38 năm Ngài làm linh mục.

Sau đây là sơ lượt tiểu sử và các địa sở Ngài đã đến phuc vụ:
23/12/1914: Sinh tại Bình Cang, Võ Cạnh, Vĩnh Trung, Thành phố Nha Trang
01/09/1925: Vào Tiểu chủng viện Làng Sông, Giáo phận Qui Nhơn
01/09/1933: Nhập Đại chủng viện Qui Nhơn
01/09/1935: Giám thị Tiểu chủng viện Làng Sông, Qui Nhơn
01/07/1941: Thụ phong Linh mục
15/08/1941: Chánh Xứ Giáo xứ Kỳ Tân, Quãng Ngãi
15/08/1943: Giáo sư Tiểu chủng viện Làng Sông, Qui Nhơn
01/02/1944: Quyền Chánh xứ Giáo xứ Hộ Diêm, Phan Rang
01/07/1945: Giáo sư Tiểu chủng viện Làng Sông, Qui Nhơn
15/09/1945: Chánh xứ Giáo xứ Dinh Thủy, Phan Rang
01/07/1947: Chánh xứ Giáo xứ Vạn Giã
01/09/1954: Giám đốc Tiểu chủng viện Làng Sông, Qui Nhơn
01/09/1957: Chánh xứ Giáo xứ Kim Ngọc, Phan Thiết
30/10/1957: Chánh xứ GX Chánh Tòa Nhatrang kiêm Hạt Trưởng Hạt Nha Trang, Khánh Hòa
23/06/1961 - 26/02/1979: Tổng Đại Diện Giáo Phận Nha Trang
15/08/1964: Giám đốc Tiểu chủng viện Sao Biển, Nha Trang
10/06/1966-26/02/1979: Chánh xứ Giáo xứ Chánh Tòa Nha Trang
26/02/1979: Được Chúa gọi về.

Ngoài ra, từ ngày 23 tháng 6 năm 1961 Ngài còn giữ chức vụ Tổng Đại Diện Nha Trang trải qua 3 đời Giám mục.

Nhìn lại quảng đường linh mục, không ai có thể phủ nhận Ngài là một con người linh mục nổi bật về sự tận tâm, thánh thiện và hăng say hoạt động truyền giáo, nhất là khi còn trẻ và về niềm tin của Chúa quan phòng. Ngài vẫn thường khuyên giáo dân của Ngài: “Có Chúa lo liệu tất cả cho chúng ta”... Nhờ sự tận tâm, thánh thiện, hăng say và niềm tin yêu tín thác đó Ngài đã thu hút số đông giáo dân đến với Ngài. Chẳng những thế, Ngài còn chiếm được lòng rất nhiều anh em lương giáo. Ngoài ra chúng ta không thể quên được một điểm nổi bật nữa của Ngài: Là lòng kính mến Đức Mẹ cách đặc biệt. Ngài đã sống nhiều với Đức Mẹ và đã giảng dạy nhiều về Đức Mẹ. Sáng sớm ngày 26 tháng 2 năm 1979, lúc Ngài đã tắt thở, người ta mở cửa vào phòng Ngài thấy trên tay Ngài còn cầm tràng chuổi đặt trên ngực. Như thế chúng ta có thể nghĩ rằng: Cuộc sống và cái chết của Ngài đã được Đức Trinh Nữ Maria bầu cử và phù hộ cách đặc biệt như lời Ngài đã xin: “Cầu cho chúng con... khi này và trong giờ lâm tử”.

Kính thưa qúy vị và anh chị em,
Chúng ta tin rằng hôm nay Linh mục Giuse đã được Chúa gọi về để lãnh triều thiên bất diệt mà ngài đã sắm sẵn từ muôn thuở. Vì thực sự ngài đã : “Đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”.
Hôm nay linh mục Giuse đã ra đi, trở về với lòng đất, nơi Ngài đã phát sinh. Ngài đã ra đi trong khi Phục vụ Mùa chay lại đến với mỗi người chúng ta, như thầm nhắc cho chúng ta về thân phận hèn yếu của con người: “Hỡi người, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi tro..."
Giờ đây chúng tôi kính xin quý vị và anh chị em, chúng ta cùng hợp lòng dâng lời khẩn nài xin Thiên Chúa Toàn Năng và Từ Bi ân thưởng cho linh hồn Giuse được hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên Quốc.

Thân ái kính chào anh chị em.
26/02/1979