LY DỊ .. TÁI HÔN

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt


.. Sau đây là một trong muôn vàn câu chuyện thương tâm của những cặp vợ chồng Công Giáo ly dị và tái hôn. Nó xảy ra tại Hoa Kỳ vào thập niên 60 và do chính đương sự kể lại.

Năm tròn 18 tuổi, tôi kết hôn với một người thanh niên tôi yêu mến. Nhiều biến cố buồn thương dồn dập xảy đến. Kết quả chồng tôi bị tù vì tội song hôn và giải pháp duy nhất: phải ly dị chồng. Chỉ vỏn vẹn hai năm sau ngày cưới với đứa con trai đầu lòng kháu khỉnh, tôi bỗng trở thành thiếu phụ tự do.

Thiếu phụ một con năm 20 tuổi, tôi hoàn toàn không hiểu tại sao Giáo Hội Công Giáo không chấp thuận cho tôi tái hôn, nghĩa là tuyên bố hôn nhân đầu tiên của tôi vô hiệu quả. Phần tôi, tôi lý luận: Hẳn Chúa muốn tôi giáo dục con trong khung cảnh một gia đình có cha mẹ và anh chị em. Nghĩ thế nên tôi quyết định tái hôn theo nghi thức đời với một thanh niên vừa theo đạo Công Giáo. Chúng tôi là đôi vợ chồng trẻ với đầy đủ yếu tố để vui hưởng cuộc sống. Dĩ nhiên người bạn đường thứ hai của tôi không hề đặt vấn đề hôn nhân hiệu quả hay không hiệu quả. Nhưng tôi thì khác. Tôi luôn luôn ý thức rằng, bao lâu Giáo Hội chưa tuyên bố hôn nhân thứ nhất vô hiệu quả, tôi vẫn còn ràng buộc với người chồng thứ nhất của tôi.

Thảm trạng đau thương nhất đời tôi là chúng tôi sống ngoài vòng Giáo Hội, vì chúng tôi không được rước lễ. Tôi sống trong sự ray rứt triền miên. Tôi bị dằn co giữa Thiên Chúa và chồng con. Một đàng tôi không thể khước từ những đòi hỏi chính đáng của chồng tôi. Một đàng tôi cũng không muốn phạm tội mất lòng Chúa.

Để tìm được nghị lực vượt qua những khó khăn, mỗi ngày tôi thức dậy thật sớm và lén chồng con đi tham dự thánh lễ và rước lễ thiêng liêng. Tôi cũng dốc lòng lần hạt Mân Côi mỗi ngày. Thêm vào đó tôi gia nhập nhóm 6 bà mẹ Công Giáo. Chúng tôi trao đổi với nhau về những khó khăn gặp phải và nâng đỡ nhau bằng cách cầu nguyện cho nhau. Chúng tôi dâng đặc biệt hy sinh cho một người nào trong nhóm đang phải đối đầu với một vấn đề nan giải. Tôi âu yếm gọi: "Nhóm các bà mẹ Công Giáo của Nhiệm Thể". Với phương thế này, chúng tôi đạt được những kết quả thật bất ngờ.

Vì hoàn toàn ý thức về tình trạng hôn nhân bất hợp pháp của mình và nổi đau khổ vì không được lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là bí tích giải tội và Thánh Thể, tôi quyết định chọn giải pháp cuối cùng: "Chúng tôi phải sống với nhau như hai anh em". Tôi quên nói, với cuộc hôn nhân thứ hai, tôi đã sinh hạ một bé gái thật dễ thương. Chồng tôi và tôi, chúng tôi chưa bước vào tuổi 30. Nói như vậy để nhắc rằng, đặt vấn đề sống tiết dục với chúng tôi thật là khó, hay ít ra về phía chồng tôi. Không một người đàn ông nào lại chấp nhận giải pháp: "lập gia đình để sống độc thân!". Thêm vào đó, xã hội chúng tôi đang sống luôn đề cao tính dục, buông thả theo tính dục. Người ta không còn hiểu rõ ý nghĩa đích thực của tình yêu, nhất là tình yêu giữa một người nam và một người nữ. Tình yêu này luôn gắn liền với tính dục và hưởng thụ.. Nhưng bằng mọi giá, tôi quyết định đi đến giải pháp sống với nhau như hai anh em, để được hòa giải với Thiên Chúa, với Giáo Hội và vẫn giữ cho các con tôi được lớn lên trong khung cảnh một gia đình.

Trong cầu nguyện, hy sinh và với sự trợ giúp tinh thần của nhóm "Các bà mẹ Công Giáo của Nhiệm Thể", tôi nhẫn nhục, kiên trì thông truyền ý tưởng sống với nhau như "hai anh em" cho chồng tôi. May mắn thay trong thời gian này, chúng tôi gặp được một linh mục thánh thiện và nhân hậu. Ngài hoàn toàn thông cảm và tận tình hướng dẫn cùng nâng đỡ chúng tôi. Một chuyện hy hữu khác. Chúng tôi làm quen với một nữ tu, và chính nữ tu này đã khơi lên trong tâm hồn chồng tôi những quan niệm cao đẹp và đúng đắn về tình yêu, và đặc biệt về "người nữ". Nhờ tiếp xúc với nữ tu, chồng tôi cảm nhận thế nào là một tình yêu trong sạch siêu thoát giữa một người nam và một người nữ, trong khung cảnh một gia đình bao quanh con cái.

Cố gắng của chúng tôi đã đưa đến một thành công vẻ vang. Cha sở chấp nhận tình trạng sống tiết dục của chúng tôi và cho phép chúng tôi được lãnh nhận các bí tích. Ngày lễ Đức Mẹ Linh Hồn và Xác Lên Trời năm đó là ngày đáng ghi nhớ. Đứa con trai lớn của chúng tôi giúp lễ và cậu bé rất hãnh diện vì chính nó đã cầm đĩa hứng Mình Thánh khi cha sở trao Mình Thánh Chúa cho Ba Má nó "rước lễ lần đầu", như lời cậu bé vui sướng công bố với bạn bè.

("MISSI", Janvier/1969, trang 35-38).


Bấm vào đây trở về “Tin YÊU Và Hy Vọng Của Kitô Giáo”

Gương CHỨNG NHÂN