LÒNG THỐNG HỐI CỦA TÙ NHÂN CHUNG THÂN.


Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt


Từ năm 1985, Serge Lefebvre, cựu nhân viên cảnh sát, bị kết án tù chung thân vì can tội ăn cướp và giết chết hai cảnh sát đồng nghiệp. Ông thi hành bản án tại nhà giam Côte-Nord nằm trong tỉnh Québec, nước Canada.

Như bao tù nhân khác ông Serge kinh nghiệm thế nào là phẩn uất, nhục nhã và tuyệt vọng. Đã có lần ông toan tính tự tử. May mắn thay ông vẫn còn vợ hiền, trung tín yêu ông và đàn con thơ dại, chưa biết thế nào là tội phạm và hận thù. Ông cũng gặp được Cha Tuyên Úy và nhóm giáo dân thiện nguyện, làm việc tông đồ tại nhà tù. Tất cả cơ hội phúc lành ấy đưa tù nhân Sege Lefebvre đến chỗ nhận ra tình thương THIÊN CHÚA đối với ông. Chính ông viết lại cuộc thống hối của mình.

.. Một buổi chiều tháng 2 năm 1987 - 2 năm sau ngày bị giam - nơi nguyện đường nhà tù, chúng tôi, một nhóm nhỏ gồm Cha Tuyên Úy, vài tù nhân và các giáo dân thiện nguyện, tụ họp lại để cùng đọc và chia sẻ Lời Chúa.

Tù nhân chúng tôi nhìn mọi vật mọi người qua lăng kính sầu thảm của mình. Tôi không thoát ra ngoài não trạng buồn thương đó. Nhưng buổi chiều hôm ấy, nẩy sinh nơi tôi ước muốn tìm lại lòng tự tin và làm thế nào để cảm nhận lòng từ bi tha thứ của Thiên Chúa. Tôi chia sẻ tâm tình mình cho mọi người nghe. Ngày hôm nay, khi nhớ lại buổi chiều hôm ấy, tôi nhận ra đó chính là suy tư giúp tôi mở rộng cánh cửa tâm hồn đón nhận Thiên Chúa, Đấng tôi cố tình từ chối, ruồng bỏ.

Sau buổi họp, một giáo dân thiện nguyện đến bên tôi và xin tôi giúp một việc. Tuy chưa biết việc gì tôi vẫn sẵn sàng chấp nhận. Người này xin tôi viết thư khích lệ thầy Maurice, một thừa sai đang sống trong tình trạng buồn thảm. Sau 30 năm truyền giáo tại Haiti, thầy bị mù mắt, bị mất hai chân và phải ngồi ghế lăn..

Đêm hôm đó khi về phòng giam, tôi không thể chợp mắt. Tôi miên man nghĩ đến vị thừa sai. Trong đêm dài tôi quên bẵng vấn đề của mình và nghĩ đến người tôi phải cứu giúp. Đúng ra tôi mới là người cần được nâng đỡ, vậy mà người ta đến xin tôi giúp đỡ người khác. Thật là vinh dự bất ngờ! Tôi cảm thấy mình có nhiệm vụ tận lực nâng đỡ vị thừa sai đáng thương ấy.

Vừa nghĩ ngợi lung tung tôi vừa cầu nguyện thưa chuyện với Chúa. Chưa hết, tôi ngồi dậy lấy giấy viết thư cho thầy Maurice.

Lạ lùng thay những lá thư tôi viết đã giúp vị thừa sai tìm lại niềm vui sống. Sáu tháng trôi qua, kể từ lá thư đầu tiên tôi gửi đi, thầy Maurice ngỏ ý muốn đến nhà giam gặp tôi.

Cuộc gặp gỡ đem lại kết quả tốt đẹp cho đôi bên. Chúng tôi thoát ra khỏi ý nghĩ mình là kẻ vô dụng và cùng lúc nhận lãnh ơn can đảm, lòng vững tin, niềm hy vọng nơi THIÊN CHÚA.

Từ đó để xóa bỏ mọi tư tưởng đen tối, tôi tập sống ngày qua ngày. Tôi khiêm tốn nhận rõ tội phạm tầy trời: tôi, cựu nhân viên cảnh sát lại can tội giết người, nên bằng lòng chấp nhận bản án chung thân.. Tôi không còn mong chờ ngày được giải thoát khỏi tù ngục nữa. Bù lại tôi nhận được niềm an bình nội tâm sâu xa, niềm an bình đến từ lòng nhân từ tha thứ của Chúa.

Thời gian ngắn sau cuộc gặp gỡ thầy Maurice, tôi bị chuyển sang nhà tù khắt khe hơn ở Québec. Chính lúc này tôi cảm nhận sự nâng đỡ của Chúa, nhờ lời cầu nguyện và hy sinh dâng hiến mọi khổ đau của thầy Maurice.. Một năm sau, thầy Maurice được Chúa gọi về với Ngài..

Thời gian tuần tự trôi qua. Trong thời gian bị tù tôi không bao giờ quên đi tội phạm của mình. Tôi, một nhân viên cảnh sát, một kẻ từng trộm cướp giết người. Nhưng Chúa nhân từ đã đoái nhìn đến thân phận khốn cùng của tôi. Trong đêm đen của tội lỗi và của tù đày tôi nhận ra lòng yêu thương của THIÊN CHÚA. Lòng yêu thương được biểu lộ qua trăm phương ngàn cách. Trước tiên qua hiền thê trung tín của tôi. Trong giây phút tuyệt vọng não nề nhất nàng còn đủ can đảm ghé sát tai tôi và nói: ‘‘Em yêu anh”. Tiếp đến qua lòng ngây thơ vô tội của các con tôi. Và sau cùng qua những người tôi hân hạnh quen biết trong khung cảnh nhà tù. Tất cả là món quà lòng từ bi THIÊN CHÚA gửi cho tôi. Nhờ thế tôi thắng vượt thất vọng và nhận ra sự hiện diện của THIÊN CHÚA trong chính cuộc đời tù nhân chung thân của tôi. Muôn vàn cảm tạ lòng từ bi nhân hậu của THIÊN CHÚA.

(”JE CROIS”, Juin/1992, trang 24-28).