KINH TIN KÍNH

Biên Soạn : Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

I. TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA LÀ CHA TOÀN NĂNG,

ĐẤNG TẠO THÀNH TRỜI ĐẤT, MUÔN VẬT HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH.

1. TÔI TIN

Trong truyền thống Kitô Giáo có hai Kinh Tin Kính quan trọng: Kinh Tin Kính của các Tông Đồ và Kinh Tin Kính của hai Công Đồng đầu tiên của Giáo Hội: Công Đồng Nicée (325) và Công Đồng Constantinople (385). Cả hai Kinh Tin Kính chứa đựng những tín điều buộc phải tin và phải tuyên xưng. Đặc biệt, Kinh Tin Kính Nicée-Constantinople là Kinh phát biểu đức tin chống lại những bè rối và cũng là Kinh chúng ta đọc khi tuyên thệ ngày chịu Phép Rửa Tội và trong các thánh lễ Chúa Nhật cũng như trong các thánh lễ trọng.

Kinh Tin Kính các Tông Đồ bắt đầu: Tôi tin kính Đức Chúa Trời / là Cha Phép Tắc vô cùng / dựng nên trời đất.

Kinh Tin Kính Nicée-Constantinople tuyên xưng: Tôi tin kính một Thiên Chúa / là Cha Toàn Năng / Đấng Tạo Thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình.

Trong Kinh Tin Kính, mỗi một tín điều phải tin và phải tuyên xưng đều được khởi đầu bằng câu: “Tôi tin kính..”.

Trong ngôn ngữ thường ngày, khi nói: “Tôi tin bạn” có nghĩa: “Tôi tin tưởng nơi bạn, tôi xác tín bạn nói sự thật”. Hoặc: “Tôi tin nơi điều bạn nói” hàm ý: “Tôi xác tín điều bạn nói phù hợp với thực tại khách quan”. Đi xa hơn, “TIN” có nghĩa là: chấp thuận và nhìn nhận là đúng, là phù hợp với thực tại, điều mà một người hay nhiều người nói, vì điều đó đáng tin. Tính cách đáng tin này tùy thuộc cùng lúc hai yếu tố: người nói và điều nói. Người nói là người đáng tin cậy và điều người đó nói phù hợp với sự thật đáng tin..

Trên bình diện tôn giáo, con người không thể sống mà không tin. Tin là nhu cầu khẩn thiết hơn cả hít thở. Ngay cả khi một người quả quyết không tin tưởng gì ráo trọi, người ấy vẫn tin tưởng nơi một cái gì đó! Nguyên sự kiện nói rằng: “Tôi không tin nơi Thiên Chúa” giả thiết một niềm tin khác. Chẳng hạn, người ấy chỉ tin nơi chính mình, hoặc rất có thể, chỉ tin nơi tinh thần kiêu căng của riêng mình! Nhưng để mà tin, phải nói là ai ai cũng tin. Giống y như tư tưởng vậy. Một người không thể không nghĩ tưởng gì ráo trọi! Khi bạn nói: “Tôi không muốn nghĩ” hoặc “Tôi không tin nơi Thiên Chúa” thì chính hai câu này lại minh chứng là “bạn đang nghĩ”, hoặc “bạn không muốn tin nơi Đấng mà bạn biết rõ là Ngài hiện hữu thật sự”.

Bà Harumi, một phật tử Nhật bản nói: “Đối với tôi, không có ai là người vô thần thật sự. Chẳng hạn anh tôi, thường tự xưng là vô thần, nhưng vẫn đến chùa thắp nhan, đốt nến để khấn vái Trời Phật xin cho con trai anh được thi đậu. Không ai là người vô thần thật, nhưng chỉ có những người thiếu hiểu biết hoặc không được học hỏi gì về đạo giáo mà thôi.

Kinh Tin Kính các Tông Đồ và Kinh Tin Kính Công Đồng Nicée-Constantinople mà chúng ta tuyên xưng hàng ngày, hàng tuần và vào các dịp lễ trọng, chứa đựng những tín điều đáng tin, do chính các Tông Đồ và những Người kế vị các ngài, là những người đáng tin, thông truyền lại.

2. TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA.

.. Các tông đồ khác nói với Toma: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa GIÊSU”. Nhưng Toma trả lời: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Thầy, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi không tin!” (Gioan 20,25).

“Nếu tôi .. Nếu tôi .. và Nếu tôi ..” Phải, nếu tôi không thấy, không chạm tới, tôi không tin .. Câu nói thoạt nghe, quả có lý. Nhưng rồi suy cho cùng, nghĩ cho kỹ, trong cuộc sống, trên cõi đời này, cóbao nhiêu điều, con người không thấy, hoặc không thể nào nhìn thấy, nhưng vẫn bắt buộc phải tin. Và đi xa hơn, đó là niềm tin vào Thiên Chúa. Linh mục thần học gia Antonin Sertillanges (1863-1948) viết: “May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không, tôi sẽ hoài nghi nó vì cho rằng tôn giáo là do trí khôn loài người cấu tạo nên. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu hiệu của Thiên Chúa”. Triết gia Gustave Thibon viết: “Bí nhiệm không phải là bức tường chặn đường trí khôn; nhưng là trùng dương chìm ngập trí khôn”.

Ông Étienne Goursat, giáo sư đại học Paris, nói: “Đại số học và Phân tích học tiến bộ đến đâu cũng không tìm được công thức chứng minh có Thiên Chúa và linh hồn bất tử. Về vấn đề này, nhà kỷ hà giỏi nhất thế giới cũng chẳng đi xa hơn một cậu học sinh tiểu học”. Ông Étienne Langlois, một học giả người Pháp viết: “Sống là tin, nhưng có phải là hiểu hết không? Thấy bông lúa, chúng ta tin có hạt lúa. Nhưng ai đã thấu hiểu bí nhiệm nẩy mộng?”. Linh mục Félicité de Lammennais (1782-1854) thì nói: “Giải thích cho tôi hiểu về một hạt cát, tôi sẽ giải thích cho bạn hiểu về Thiên Chúa”. Sau cùng, nhà đại văn hào Pháp Blaise Pascal (1623-1662) kêu lên: “Lý trí ngu dại ơi, hãy im đi và hãy lắng tai nghe Thiên Chúa!”. Nhưng ông Louis Pasteur (1822-1895) khoa học gia nổi tiếng người Pháp đi xa hơn khi ông thú nhận: “Nhờ suy nghĩ nhiều và nghiên cứu nhiều mà tôi giữ được lòng tin của người đàn ông xứ Bretagne (miền Tây nước Pháp). Nếu tôi suy nghĩ và nghiên cứu nhiều hơn, chắc tôi đã có được lòng tin của người đàn bà xứ này!”.

Như thế, Đức Tin không phải là kết quả của khoa học, nhưng do sự khiêm tốn chấp nhận của lý trí con người; cũng không phải do thái độ ngu dốt mù quáng của tinh thần, nhưng là nhờ sự thông minh của con tim, biết nhạy cảm nhận ra các chân lý đời đời.

.. Vào khoảng năm 300, trước Chúa KITÔ giáng thế, dưới thời vua Gerone cai trị vương quốc Siracusa (ngày nay thuộc đảo Sicilia, miền Nam nước Ý) có một triết gia nổi tiếng tên Simonide. Một ngày, vua Gerone ra lệnh triệu ông vào cung và bảo phải trình bày cho nhà vua biết về THIÊN CHÚA. Triết gia Simonide xin nhà vua gia hạn một ngày .. để suy nghĩ kỹ trước khi trả lời. Một ngày .. rồi hai ngày .. rồi ba ngày .. Sau cùng, ông Simonide khiêm tốn tâu vua: “Thần không biết phải giải thích thế nào với hoàng thượng về Thiên Chúa. Càng suy nghĩ về THIÊN CHÚA, thần càng thấy THIÊN CHÚA quá cao xa và thần càng không tìm ra ngôn từ để diễn đạt điều mà trí khôn thần mới thoáng nhận thấy!”. Vua Gerone vô cùng khâm phục khi thấy một triết gia lỗi lạc như Simonide lại thú nhận bất lực trong việc diễn giải về THIÊN CHÚA! Nhà vua bỗng hiểu rằng: “THIÊN CHÚA quá cao cả trong khi trí khôn con người - cho dầu trí khôn của một đại triết gia - quá nhỏ bé! Làm sao có thể chứa trọn biển cả trong một chiếc bình cỏn con?”.

Tuy nhiên, mặc dầu không thể giải thích tường tận, con người vẫn tin nơi sự hiện hữu của Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa Độc-Nhất, Vĩnh-Cửu, Tối-Cao và Toàn-Năng. Ngài hiện diện khắp nơi.

.. Một người lẻn vào vườn để hái trộm trái cây. Nhưng trước khi giơ tay hái, anh ta cẩn thận đưa mắt nhìn tứ phía: nhìn trước, nhìn sau, nhìn bên phải rồi nhìn bên trái .. Còn đang dáo dác nhìn, anh bỗng giật mình nghe tiếng nói. Một cậu bé đang ngồi vắt vẻo trên cành cây gần đó la to: “Anh nhìn tứ phía, sao anh không ngước mắt lên TRỜI?”. Người ăn trộm cúi mặt xấu hổ. Câu nói của cậu bé như luồng sáng chiếu dọi vào tâm trí, nhắc anh nhớ đến sự hiện diện vô hình ở khắp mọi nơi của Thiên Chúa ..

Nhưng Thiên Chúa là ai? Thiên Chúa là Đấng Tự-Hữu, Hằng-Sống và là Đấng dựng nên con người. Thiên Chúa là Bạn Đồng Hành không bao giờ bỏ rơi con người, là Vị Khách mà con người không xua đuổi được. Nếu bạn sống tử tế, Người Khách và Vị Đồng Hành trở thành Bạn Tốt. Nếu bạn sống bất chính và lỗi phạm, Vị Đồng Hành và Người Khách trở thành Vị Vua nổi giận và không để bạn yên..

Thiên Chúa phán cùng dân Do Thái: “Ta là Thiên Chúa ngươi, Đấng đã dẫn ngươi ra khỏi vùng Ai Cập, khỏi nhà nô lệ. Ngươi không được thờ thần nào khác trước mặt Ta, vì Ta là Chúa, Thiên Chúa ngươi, Chúa hùng mạnh, Chúa ganh tị, trừng phạt con vì tội lỗi cha, cho đến ba bốn đời, những kẻ ghét Ta; nhưng Ta tỏ lòng nhân lành đến ngàn đời đối với những ai kính mến Ta và tuân giữ các giới răn Ta” (Xuất Hành 20, 1-4). Thiên Chúa là Đấng Chí Công, Ngài thưởng phạt con người đúng theo công đức và tội lỗi của họ. Nhưng trước hết và trên hết, Thiên Chúa là TÌNH YÊU. Đối với những kẻ ghét Ngài, Ngài phạt con vì tội lỗi cha, cho đến ba bốn đời, nhưng tỏ lòng nhân hậu đến ngàn đời đối với những ai kính mến và tuân giữ các giới răn Ngài! Bởi vì, THIÊN CHÚA là Tình Yêu: Ta là Chúa, Thiên Chúa ngươi.

Thiên Chúa Tình Yêu đồng nghĩa với Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu, từ bi, chậm giận và mau thứ tha.

Niềm vui của Thiên Chúa là được ở giữa con cái loài người. Chính Ngài là Vua, là Chủ Tể. Chính Ngài yêu thương và kêu mời con người đáp lại tình yêu cùng tiếng gọi của Ngài. Dù cho con người sống cách nào, Thiên Chúa vẫn không ruồng bỏ. Chỉ có con người dại dột từ bỏ Chúa, nguồn hạnh phúc đích thực của đời mình. Cũng chính Thiên Chúa lôi kéo con người hướng về Ngài. Francois de Cruel viết: ”Nước triều dâng lên bảo cho ta biết bên trên các tầng mây có một vị tinh cầu chiến thắng. Không lẽ chỉ có những tiếng lòng dâng lên là hướng về một tầng trời trống rỗng sao?”. Đức cha D'Hulst nói: “Trái tim loài người ngay từ đầu đã bị một mũi tên ở vô biên bay xuống làm tổn thương. Không ai có thể chữa được vết thương đó, trừ Người đã làm ra vết thương!”. Hai cánh tay nhân từ của Thiên Chúa giang rộng đón nhận đôi tay khẩn thiết giơ cao của con người. Khi nào vòng tay Thiên Chúa chạm đến và ôm trọn con người là lúc con người sống trong ngây ngất và hưởng nếm niềm vui vô tận.

3. TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA LÀ CHA TOÀN NĂNG.

Thiên Chúa mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là Thiên Chúa Độc-Nhất, Vĩnh-Cửu, Tối-Cao, Toàn-Năng và Hằng-Sống. Ngài là Thiên Chúa của Abraham, Tổ Phụ chúng ta trong Đức Tin (Rm 4,12-14). Ngài là “Thiên Chúa của Isaac và của Giacóp”, tức là Thiên Chúa của Israel (Mc 12,26), Thiên Chúa của Maisen: “Ta là Đấng Tự Hữu” (Xuất Hành 3,14). Sau cùng và trên hết, Ngài là “THIÊN CHÚA, CHA của ĐỨC GIÊSU KITÔ” (Rm 15,6). Đây là điều chúng ta khẳng định khi tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là CHA Toàn Năng”. Ngài chính là Thiên Chúa mà thánh Phaolo tông đồ quả quyết trong thư gửi tín hữu Do Thái: “Thưở xưa, nhiều lần, nhiều cách, THIÊN CHÚA đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, THIÊN CHÚA đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Do Thái 1,1-2). Thiên Chúa, nguồn mạch ngôn từ, tự tỏ hiện theo dòng lịch sử, đã tỏ hiện cách rõ ràng nơi Ngôi Lời nhập thể, Con Thiên Chúa Hằng Hữu là ĐỨC GIÊSU KITÔ. Chúa GIÊSU nhìn nhận mình là Con Thiên Chúa và chúc tụng Cha Ngài: "Lạy CHA là Chúa Tể trời đất, CON xin ngợi khen CHA, vì CHA đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng lạy CHA, vì đó là điều đẹp ý CHA" (Mt 11,25-26).

THIÊN CHÚA là CHA của Đức GIÊSU KITÔ lại cũng là THIÊN CHÚA và là CHA của loài người. Chính Đức GIÊSU đã dạy như thế. Ngài phán cùng bà Maria Magdala: “Đừng chạm đến Thầy, vì Thầy chưa lên cùng CHÚA CHA. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng CHA của Thầy, cũng là CHA của anh em, lên cùng THIÊN CHÚA của Thầy, cũng là THIÊN CHÚA của anh em” (Gioan 20,17-18).

Giáo huấn THIÊN CHÚA là CHA được Đức GIÊSU KITÔ cô đọng trong kinh LẠY CHA do chính Ngài truyền dạy cho chúng ta: Lạy CHA chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh CHA cả sáng, Nước CHA trị đến, ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Xin CHA cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.

Trọn giáo huấn và cuộc đời dương thế, kết thúc với cái chết và cuộc sống lại của Chúa GIÊSU KITÔ là mẫu gương tối cao tuyệt hảo giúp con người sống tâm tình con thảo với THIÊN CHÚA là CHA. Ngoài ra, mỗi người nơi trần gian đều có một người cha. Tình yêu thương chăm sóc của người cha trần gian giúp con người hiểu được phần nào tình yêu bao la vô biên của THIÊN CHÚA là CHA ở trên trời.

... Bà Maria Valtorta (1897-1961) là một nữ giáo dân đạo đức, sinh tại Caserta, miền Nam nước Ý. Maria là ái nữ duy nhất của ông bà Giuseppe Valtorta và Iside Fioravanzi.

Vâng lời cha linh hướng, Maria Valtorta viết lại cuộc đời mình, như kể chuyện một bông hoa tím, ẩn khuất, bé bỏng và khiêm tốn. Trong quyển tự thuật này, Maria đã nói về người cha dấu ái, ông Giuseppe Valtorta. Bà viết:

Ba tôi là tất cả đối với tôi: người che chở, cảm thông và là người làm cho tôi được hạnh phúc.. Chúa cho tôi có trí nhớ rất sớm. Nhờ đó tôi nhớ rõ những chi tiết xảy ra từ thời thơ ấu.

Từ năm lên 3 tuổi, vào những giờ rãnh và nhất là vào những ngày Chúa Nhật, Ba tôi đưa tôi đi dạo chơi với người. Đây là lúc tôi thỏ thẻ thổ lộ cùng người tất cả và chất vấn người đủ điều. Trong khi đó Ba tôi thật hiền hòa, nhẫn nhục, chăm chú lắng nghe và giải thích từng điều cho tôi hiểu. Mặc dầu còn nhỏ tuổi, nhưng tôi đã tỏ ra là một cô bé thông minh, biết quan sát, thích tìm hiểu và có một tâm hồn chiêm niệm. Nhận rõ các khả năng này, Ba tôi thường trả lời các thắc mắc của tôi một cách nghiêm chỉnh. Người không coi tôi là đứa con nít, nhưng cư xử với tôi như một người có óc thông minh bén nhậy. Tôi học nơi Ba tôi không biết bao nhiêu đức tính cao đẹp.

Đối diện với cô học trò thông minh, Ba tôi là vị thầy tốt lành bao la. Tôi cảm thấy an toàn, vững dạ khi ở bên cạnh người và hoàn toàn tín thác nơi tình thương yêu, bao bọc, cảm thông của người.

Hình ảnh yêu thương nhân hậu của Ba đã giúp tôi ngay từ thời thơ bé, hiểu sâu xa ý nghĩa của câu nói: “THIÊN CHÚA là CHA”. Chỉ cần nhìn Ba, đủ giúp tôi hiểu được tình phụ tử bao la của Thiên Chúa đối với loài người. Lòng nhân lành, sự khôn ngoan, tình yêu của THIÊN CHÚA, CHA trên Trời, tất cả những đức tính này, tôi cảm nhận, đo lường được, qua tình yêu của người cha trần thế của tôi. Và tôi yêu mến Thiên Chúa thật, vì tôi kinh nghiệm thế nào là yêu mến một người cha!

Khi tôi viết những dòng chữ này, Ba tôi đã là người thiên cổ. Người đã được Chúa gọi về, sau khi trải qua không biết bao nhiêu buồn phiền thử thách. Nhưng tôi vẫn tiếp tục yêu mến người. Hạnh phúc thay và cũng an ủi thay, mỗi khi ngước mắt nhìn trời cao, tôi có thể thân thưa với cha hiền đang chiêm ngưỡng dung nhan Chúa trên thiên quốc rằng: “Ba yêu dấu, nơi trần gian này, con đã không bao giờ làm cho Ba phải buồn, phải khóc cả!”.

Có hai tên gọi thật thâm sâu, thật dấu ái đối với tôi. Đó là danh thánh “GIÊSU” và tiếng kêu “Ba ơi”. Đó cũng là hai mối tình đậm đà và trung tín nhất của tôi.. Ngày Ba tôi qua đời, gương mặt người bỗng trở lại những nét đẹp nguyên vẹn của thời xuân trẻ, thông minh và tuấn tú. Hình ảnh này an ủi tâm hồn tôi rất nhiều, vì tôi hiểu rằng, Ba tôi là một người công chính và thánh thiện.

4. TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA LÀ CHA TOÀN NĂNG, ĐẤNG TẠO THÀNH TRỜI ĐẤT, MUÔN VẬT HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH.

... Trong những ngày ấy, bảy anh em Do Thái bị bắt cùng với thân mẫu. Thừa lệnh nhà vua, người ta dùng gậy và roi gân bò đánh đập họ, bắt buộc họ ăn thịt heo mà luật Do Thái cấm. Đặc biệt là bà mẹ đáng ca tụng và đáng ghi nhớ: chỉ trong một ngày, bà chứng kiến bảy con mình chết. Bà vui lòng chịu đựng và trông cậy vào Chúa. Bà đầy khôn ngoan, dùng tiếng của cha ông, can đảm khuyên bảo từng đứa con. Bà dùng sự hăng say nam nhân mà nâng đỡ tâm hồn phụ nữ của mình. Bà nói với các con: “Mẹ không biết các con đã thành hình trong dạ mẹ ra sao, vì không phải mẹ ban cho các con tinh thần, linh hồn và sự sống, cũng không phải mẹ sắp đặt các chi thể các con; nhưng là Đấng Sáng Tạo vũ trụ. Người đã dựng nên loài người, và sáng tạo mọi sự với lòng nhân hậu, Người sẽ trả lại cho các con tinh thần và sự sống, vì giờ đây các con coi rẻ mạng sống các con để bảo vệ luật pháp của Người”. Bà cũng dùng tiếng nói của cha ông mà nói với người con trai út: “Hỡi con, hãy thương mẹ đã cưu mang con chín tháng trong dạ, đã cho con bú sữa trong ba năm, đã nuôi dưỡng và dẫn dắt con cho tới tuổi này. Con ơi, mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và tất cả mọi sự vật trong đó. Con biết rằng, Thiên Chúa đã tác tạo những vật đó và loài người từ hư vô, nên con đừng sợ tên lý hình này, một hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con và hãy nhận lãnh cái chết, để nhờ lòng lân tuất của Chúa, mẹ sẽ gặp con cùng với các anh con” (2 Maccabêô, 7..).

THIÊN CHÚA mà bà mẹ anh dũng của sách Maccabêô nói với các con mình là THIÊN CHÚA TOÀN NĂNG, ĐẤNG TẠO THÀNH TRỜI ĐẤT, MUÔN VẬT HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH. Với lý trí bình thường, con người có thể nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thiên Chúa vô hình trở thành - một cách nào đó - Thiên Chúa hữu hình qua công trình sáng tạo của Ngài:

Trời xanh kể lại vinh quang Chúa
Không trung loan báo việc Người làm
Ngày qua ngày lại lời trao đổi,
Đêm nọ đêm kia chỉ vẻ nhau. (Thánh Vịnh 18)

Công trình Ngài, lạy Chúa
Quả thiên hình vạn trạng
Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan,
Sự nghiệp Chúa tràn đầy mặt đất. (Thánh Vịnh 103)
Đứng trước THIÊN CHÚA là CHA, Toàn-Năng, Độc-Nhất, Hằng-Hữu, Chí-Thánh, Chí-Cao, Trung-Tín và Từ-Bi, thái độ con người chỉ có thể là bái phục tôn thờ và yêu mến Ngài hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn .. Đặc biệt, tín hữu phải sống làm sao để khi nhìn vào, những người vô thần hoặc vô tín ngưỡng có thể ngạc nhiên thán phục và nhìn nhận: “Thiên Chúa hiện hữu thật sự, bởi vì những tín hữu này sống như những bậc thánh, những vị thần!”.

... Ngày 3-6-1951, chính quyền tỉnh Trùng-Khánh tổ chức một cuộc họp, nhằm mục đích tố cáo đức cha Ribéri, Khâm Sứ Tòa Thánh tại Trung Quốc. Hàng giáo sĩ cùng mọi tín hữu Công Giáo Trung Hoa được triệu tập để tham dự buổi họp. Tiếng loa phóng thanh la lớn, kêu gọi mọi người bỏ phiếu trục xuất Đức Khâm Sứ. Hết dụ dỗ đến đe dọa, ép buộc. Mệt đừ và chán nản vì buổi họp léo nhéo kéo dài, nhiều linh mục tuyên bố đồng ý .. Ngay lúc ấy, một người rẽ đám đông từ từ tiến lên khán đài. Người đó cúi chào tấm ảnh họ Mao, giơ tay làm dấu Thánh Giá rồi cất tiếng nói lớn:

.. Kính thưa quý chức chính quyền, kính thưa quý vị đáng kính của Giáo Hội Công Giáo, cùng mọi tín hữu nhất quyết trung thành với Đức Tin và toàn thể quý vị.

.. Chính quyền vừa cho phổ biến một thông cáo, trong đó có ba điểm tự trị dành cho Giáo Hội Công Giáo tại Trung Quốc. Đó là: tự trị về tổ chức, tự trị về tài chánh và tự trị về việc truyền đạo. Nhiều người hô hào rằng: phong trào cổ võ cho ba điều tự trị vừa nói là một phong trào có tính cách hoàn toàn yêu nước. Thật ra, phong trào này ngày hôm nay kêu gọi chúng ta chống lại vị đại diện Đức Giáo Hoàng là đức cha Ribéri, và ngày mai, họ sẽ kêu gọi chúng ta chống lại Đức Giáo Hoàng, vị đại diện của Chúa GIÊSU KITÔ. Rất có thể trên lý thuyết có sự khác biệt, nhưng trong thực tế, THIÊN CHÚA là MỘT, Đức Giáo Hoàng là MỘT và vị đại diện của Đức Giáo Hoàng cũng là MỘT.

.. Tôi nghĩ rằng, nếu Giáo Hội Công Giáo và chính quyền có thể hợp tác với nhau được, thì phong trào cổ võ cho Giáo Hội Công Giáo Trung Quốc có được ba điều “tự trị” nói trên, là một phong trào ái quốc thực thụ. Và nếu được như vậy thì còn gì tốt đẹp cho bằng! Tuy nhiên, trong lúc này đây, người ta chưa nhận ra những dấu hiệu xích lại gần nhau của đôi bên, trái lại, cả hai đang từ từ rời xa nhau ..

.. Chính quyền thường cho chúng tôi được tự do phát biểu ý kiến. Do đó, tôi cảm thấy lương tâm bắt buộc tôi phải thành thật trình bày ý kiến. Nếu tôi bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm, nếu tôi chối bỏ THIÊN CHÚA, xa rời Giáo Hội Công Giáo và đùa chơi với chính quyền, tôi chỉ là một tên xu thời, một kẻ hèn nhát và không còn ích lợi gì cho ai cả!

.. Tôi xin tóm tắt ý kiến của tôi như sau: Tôi là một tín hữu Công Giáo Trung Hoa. Tôi yêu mến xứ sở tôi. Tôi cũng yêu quý Giáo Hội của tôi nữa. Tôi không chấp nhận chia rẽ. Nhưng nếu Giáo Hội và chính quyền không thể đi đến chỗ hòa hợp, thì mọi tín hữu Công Giáo Trung Hoa sớm muộn gì cũng sẽ chết vì ĐỨC TIN!

.. Kính thưa quý vị. Tôi chỉ có một linh hồn và tôi không thể phân chia linh hồn ra nhiều mảnh. Nhưng tôi có một thân xác và thân xác này có thể cắt xẻ từng mảnh vụn. Vậy theo tôi, điều tốt hơn cả là dâng trọn linh hồn tôi cho THIÊN CHÚA và cho Giáo Hội Công Giáo. Còn thân xác, tôi xin dâng cho Tổ Quốc và nhà nước. Nếu nhà nước thích, nhà nước cứ cắt ra trăm mảnh, tôi chẳng chống cự gì.

.. Xin quý vị lượng tình tha thứ, nếu bài phát biểu ý kiến của tôi có gì sơ suất ..

Người vừa nói mấy lời trên đây không ai khác là linh mục Gioan Tống Chuyên.

Sau khi làm dấu Thánh Giá, cúi chào bức ảnh họ Mao, cha Gioan Tống Chuyên từ từ rời khán đài, giữa tiếng vỗ tay vang dội của đám đông các tín hữu gồm cả Công Giáo, Tin Lành và Phật Giáo. Mọi người ngạc nhiên và phấn khởi trước hành động và lời nói vừa anh dũng vừa cao sang của vị Linh Mục Công Giáo Trung Hoa, dám tuyên xưng niềm tin vào THIÊN CHÚA và bày tỏ lòng trung thành với Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ.


II. TÔI TIN KÍNH ĐỨC GIÊSU KITÔ, ĐẤNG CỨU CHUỘC.

1. ĐỨC GIÊSU KITÔ VẪN LÀ MỘT, HÔM QUA CŨNG NHƯ HÔM NAY VÀ NHƯ VẬY MÃI ĐẾN MUÔN ĐỜI.

... Vào thời kỳ nước Nga sống dưới chế độ cộng sản vô thần, chính quyền tìm mọi cách xóa bỏ Kitô-Giáo ra khỏi tâm lòng và đời sống của người dân. Để đạt mục tiêu, nhà nước dùng đủ thứ thủ đoạn và phương tiện, đứng đầu là giới văn nghệ và truyền thông. Đó là lý do giải thích sự xuất hiện vở kịch mang tựa đề: “Đức KITÔ mặc áo choàng cưỡi ngựa (redingote)”.

Khi các bảng quảng cáo được dán đầy các bức tường thành phố Moscou, tức khắc gây tiếng vang lớn. Mọi người xôn xao bàn tán và mong mau đến ngày vở kịch được trình diễn. Ai ai cũng muốn biết nội dung vở kịch ra sao, bởi lẽ, người đóng vai Đức GIÊSU là Alexandre Rostovtchev, một kịch sĩ vừa nổi danh tài ba vừa khét tiếng vô thần .. Ngoài ra, các nghệ sĩ tên tuổi khác cũng đều có mặt trong vở kịch.

Vào buổi trình diễn đầu tiên, nơi rạp hát lớn của thủ đô không còn một chỗ trống. Các khán thính giả gồm đủ hạng người: từ trí thức đến thường dân, từ sang đến hèn, từ già đến trẻ, từ người có tín ngưỡng đến kẻ vô thần. Mỗi người dấu ẩn một tâm tình riêng tư ngổn ngang khó diễn tả.

Khi bức màn từ từ kéo lên, mọi người như nín thở. Màn đầu tiên dĩ nhiên là một chuỗi những công kích, chê bai, nhạo báng và xúc phạm đến Giáo Hội Công Giáo, đặc biệt là các buổi cử hành Phụng Vụ Thánh. Chẳng hạn, nam tu sĩ là những tên say rượu. Nữ tu là các cô gái điếm. Cả hai nhóm thay nhau lải nhải những bài ca tình, bắt chước cung giọng các đan sĩ hát kinh Thần Vụ.. Nếu màn một trình diễn Kitô Giáo thối nát, bệ rạc như thế, chính là để báo hiệu màn hai, giới thiệu Đức KITÔ, Ông Tổ của Kitô Giáo. Nếu Kitô Giáo tàn lụi như vậy, thì có nghĩa người khai sinh ra nó cũng chả ra gì!

Khi bức màn được kéo lên, nghệ sĩ Alexandre Rostovtchev xuất hiện trong vai Đức KITÔ, mặc áo thụng trắng của người Do-Thái. Chàng có nhiệm vụ trình diễn một Đức KITÔ ủ rũ buồn rầu vì thấy mình bị thất bại với Kitô Giáo. Do đó, Đức KITÔ nhất quyết viết lại Phúc-Âm, thay đổi giáo huấn của Ngài, một giáo huấn không hợp thời .. Và Đức KITÔ, thay vì mặc áo chùng trắng, Ngài sẽ mặc ”áo choàng cưỡi ngựa” đúng điệu các chàng hiệp sĩ Tây Phương ở thế kỷ 20 này .. Có thế, sứ điệp của Ngài mới được lắng nghe.

Điểm chính yếu trong màn hai của vở kịch được trình diễn Đức KITÔ với bài giảng trên núi về các “Mối Phúc Thật”. Theo chương trình, Rostovtchev cầm trên tay cuốn Phúc-Âm, sẽ đọc hai câu đầu của bài giảng, rồi vứt mạnh cuốn sách vào xó và nói: Hãy trao cho Ta chiếc áo khác, hợp thời trang và trao cho Ta các phương tiện khác hữu hiệu hơn cuốn sách cổ hũ này!.

Bằng giọng run run cảm động, Rostovtchev đọc hai “Mối Phúc” đầu tiên: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất-Hứa làm gia nghiệp .. Đọc xong, chàng đứng im bất động. Cả hội trường im lặng như tờ. Nổi xúc động của chàng kịch sĩ như truyền sang các khán thính giả. Sau giây phút im lặng ngỡ ngàng, khán thính giả như bừng tỉnh. Nhiều tiếng huýt sáo nổi lên, nhắc chàng phải trở lại vai trò của mình. Thế nhưng, bằng một giọng rõ ràng và cương quyết, Rostovtchev đọc tiếp các “Mối Phúc” còn lại: Phúc thay ai sầu khổ .. Phúc thay ai khao khát nên người công chính .. Phúc thay ai xót thương người .. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch .. Phúc thay ai xây dựng hòa bình .. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính .. Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao (Mt 5, 5-12).

Đọc xong, Rostovtchev ngước đôi mắt sâu thẳm nhìn đăm đăm khán thính giả. Chàng nhìn nhưng không thấy khán thính giả đã từ từ đứng lên ngay sau khi chàng đọc “Mối Phúc” thứ ba .. Chàng như mất hút trong tư tưởng huyền nhiệm của các “Mối Phúc”. Xong, chàng trịnh trọng giơ tay làm dấu Thánh Giá và lớn tiếng cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin Ngài nhớ đến con khi nào Ngài ngự vào Vương-Quốc của Ngài!” Và chàng đột ngột rời sân khấu. Bức màn vội vàng buông xuống. Trong nhóm khán thính giả, nhiều người cũng giơ tay làm dấu Thánh Giá và không cầm được nước mắt .. Có người thì thầm lời nguyện: “Lạy Chúa GIÊSU, xin thương xót con tội lỗi!”

Buổi trình diễn bị bỏ dở tại đó. Một thất bại vĩ đại cho nhà nước cộng sản. Nhưng là một thành công lớn lao cho Kitô Giáo. Không ngờ chàng kịch sĩ vô thần Alexandre Rostovtchev lại làm nổi bật khuôn mặt độc nhất vô nhị của Đức GIÊSU KITÔ: Đấng Cứu Độ, hôm qua, hôm nay và mãi mãi ..

2. TÔI TIN KÍNH ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CON MỘT ĐỨC CHÚA CHA.

Tôi tin kính Một Chúa GIÊSU KITÔ, Con Một Thiên Chúa.. Thiên Thần là loài thụ tạo thiêng liêng, là tôi tớ và là sứ giả của Đấng Tối Cao, đã được Thiên Chúa dựng nên. Loài người, loài vật cùng vạn sự trong trời đất cũng đã được Thiên Chúa dựng nên. Thiên Chúa dựng nên muôn loài - hữu hình cũng như vô hình - nhưng không sinh ra chúng. Trái lại, Thiên Chúa sinh ra Đức GIÊSU KITÔ. Trong kinh Tin Kính Nicée-Constantinople chúng ta tuyên xưng: Đức GIÊSU KITÔ là Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa. Ánh-Sáng bởi Ánh-Sáng. Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra chứ không phải được tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Như vậy, Đức GIÊSU KITÔ là Con Một Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật. Bởi vì, Thiên Chúa chỉ có thể sinh ra một Đấng khác, đồng bản tính với Ngài. Đấng Toàn-Thiện chỉ có thể sinh ra một Đấng Toàn-Thiện khác, để giữ nguyên vẹn đặc tính toàn thiện của Ngài.

Thư gửi tín hữu Do-Thái, nơi chương thứ nhất từ câu 5-14, đã minh chứng Đức GIÊSU KITÔ là Con Một Thiên Chúa và cao trọng hơn các thiên thần. Thư viết: .. Thật vậy, có bao giờ Thiên Chúa phán cùng vị thiên thần nào rằng: “Con là con Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con”? Hoặc nói rằng: “Ta sẽ là Cha ngươi và chính ngươi sẽ là con Ta”? Nhưng khi đưa Trưởng-Tử vào thế giới loài người, Thiên Chúa lại phán: “Mọi thiên thần của Thiên Chúa phải thờ lạy Người”. Về các thiên thần thì có lời chép: “Người làm cho thiên thần của Người nên những luồng gió, và thuộc hạ của Người thành những ngọn lửa”. Nhưng về Người Con, thì Kinh-Thánh lại nói: “Lạy Thiên Chúa, ngôi báu Ngài sẽ trường tồn vạn kỷ! Vương trượng Ngài, vương trượng công minh. Ngài ưa điều chính trực, ghét điều gian ác. Chính vì vậy, Thiên Chúa là Thiên Chúa của Ngài đã tôn phong Ngài vượt trổi các đồng liêu, mà xức cho dầu thơm hoan lạc”. Và có lời khác: “Lạy Chúa, lúc khởi đầu, Chúa đã đặt nền trái đất, chính tay Ngài tạo tác vòm trời. Chúng tiêu tan, Chúa vẫn còn mãi mãi; chúng đều sẽ cũ đi như chiếc áo. Chúa sẽ cuốn chúng lại như cuốn áo choàng, chúng sẽ bị thay như người ta thay áo. Nhưng chính Chúa vẫn tiền hậu y nguyên, và năm tháng của Ngài sẽ không chấm dứt”. Và có bao giờ Thiên Chúa đã phán với một thiên thần nào rằng: “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân Con?”..

Người Con mà thư gửi tín hữu Do-Thái nói đến ở đây chính là Đức GIÊSU KITÔ, Con Một Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa giống như Cha Ngài là Thiên Chúa. Ngài đồng bản tính, có cùng ưu phẩm và quyền năng với Cha Ngài là Thiên Chúa. Ngài được Thiên Chúa Cha yêu thương cách riêng: “Này là Con Ta yêu dấu và đẹp lòng Ta mọi đàng. Các con hãy nghe lời Người” (Mt 17,5) ..

3. TÔI TIN KÍNH ĐỨC GIÊSU KITÔ, ĐẤNG CỨU CHUỘC.

Thiên Chúa đã không chọn một thiên thần để trao cho sứ vụ Cứu Thế. Thiên Chúa cũng đã không chọn một người phàm để xức dầu và tấn phong làm Đấng MESSIA. Không. Nhưng Thiên Chúa đã sai chính Con Một Ngài “từ trời xuống thế, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ MARIA và đã làm người”. Như vậy, Đức GIÊSU KITÔ không phải là thiên thần, cũng không phải là người trần, mà là Thiên Chúa. Và để có thể cứu chuộc loài người tội lỗi, Đức GIÊSU KITÔ đã mặc lấy xác phàm. Ngài trở thành Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là Người thật. Ngài là Đấng “Người/Thiên Chúa”: Đấng trung gian giữa con người với Thiên Chúa. Chỉ mình Đấng “Người/Thiên Chúa” mới có thể hoàn thành công cuộc cứu chuộc loài người tội lỗi và làm giảm cơn thịnh nộ của Thiên Chúa Cha.

.. “Chính vì Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích mọi loài, muốn đưa muôn vàn con cái đến vinh quang, nên đã làm một việc đích đáng là cho Đức GIÊSU trải qua gian khổ mà trở thành vị Lãnh-Đạo Thập-Toàn, dẫn đưa họ tới nguồn ơn cứu độ. Thật vậy, Đấng Thánh-Hóa là Đức GIÊSU và những ai được thánh hóa đều do một nguồn gốc.. Nhưng vì con cái loài người đều chung một huyết nhục, nên Đức GIÊSU đã cùng mang lấy huyết nhục đó. Như vậy, nhờ cái chết của Người, Người đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ. Vì những kẻ được Người giúp đỡ không phải là các thiên thần, mà là con cháu Abraham. Bởi thế, Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng-Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách.. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục. Và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng-Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Thư gửi tín hữu Do Thái 2,10-18 + 5,8-10).

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolo Tông Đồ viết: “Đức GIÊSU KITÔ vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm-nhân sống như người trần thế. Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu, trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh GIÊSU, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh THIÊN CHÚA CHA mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CHÚA” (Phi 2,6-11).

.. Chúa Nhật lễ Chúa KITÔ VUA 22-11-1992, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 đã long trọng tuyên phong chân phước cho 25 vị tử đạo người Mễ-Tây-Cơ. Trong số 25 vị, có 3 giáo dân trẻ, Joven Salvador Lara Puente, 21 tuổi, Joven David Roldán Lara, 24 tuổi và một người cha gia đình, anh Manuel Morales, 28 tuổi. Còn lại là 22 linh mục, cha sở các xứ đạo. Các ngài bị giết trong khoảng từ 1915-1937, đặc biệt trong 3 năm 1926-1928. Đây là thời kỳ chính quyền Mễ-Tây-Cơ bài tôn giáo bách hại dữ dội đạo Công Giáo.

Các ngài bị bắt và bị giết chỉ vì là tín hữu và Linh Mục Công Giáo!. (Chúa Nhật 21 tháng 5 Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolo 2 đã nâng tất cả 25 chân phúc lên hàng Hiển Thánh).

Xin trưng dẫn 4 mẫu gương tiêu biểu lòng yêu mến Đức GIÊSU KITÔ Vua, Trinh Nữ MARIA và Giáo Hội Công Giáo.

.. Linh mục Rodrigi Aguilar Alemán, 52 tuổi, cha sở họ đạo Unión de Tula. Trong thời kỳ Giáo Hội Công Giáo gặp khó khăn, cha Aguilar thường đọc lời kinh: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ơn thánh để chúng con có sức mạnh chịu đau khổ vì Danh Chúa, làm chứng cho Đức Tin bằng chính máu đào của chúng con và hoàn thành chức vụ linh mục bằng triều thiên tử đạo. Xin cho thánh ý Chúa được nên trọn!”

Sáng tinh sương ngày 28-10-1927, cha Aguilar bị quân lính đưa ra nơi xử. Trước khi tròng dây siết mạnh cổ ngài, bọn lính hỏi: “Tung hô ai?” Cha Aguilar mạnh mẽ trả lời: “Tung hô Đức KITÔ Vua và Đức Bà Guadalupe!” Quân lính kéo dây siết mạnh cổ ngài. Nhưng chúng dừng lại và hỏi lần thứ hai: “Tung hô ai?” Vẫn còn đủ sức, cha Aguilar cương quyết trả lời: “Tung hô Đức KITÔ Vua và Đức Bà Guadalupe!” Quân lính tức giận càng siết mạnh hơn, rồi chúng lại hỏi lần thứ ba: “Tung hô ai?” Chỉ còn chút hơi tàn, nhưng cha Aguilar vẫn anh dũng trả lời: “Tung hô Đức KITÔ Vua và Đức Bà Guadalupe!”

.. Linh mục Sabás Reyes Salazar, 44 tuổi, cha phó họ đạo Tototlán, thuộc giáo phận San Juan de los Lagos. Thứ Hai Tuần Thánh năm 1927, quân lính đột nhập vào nhà xứ để bắt cha sở lẫn cha phó. Nhưng họ chưng hửng vì chỉ tìm thấy cha phó. Do đó mọi tức giận họ đổ cả trên người cha phó. Họ trói ngài rồi đem cột ngài nơi cây cột của nhà thờ xứ đạo. Họ đánh đập và bỏ đói ngài trong vòng ba ngày. Đến ngày Thứ Tư Tuần Thánh 13-4-1927, họ đem ngài ra nghĩa trang để giết. Nhưng trước khi tắt thở, cha Sabás Reyes Salazar dùng trọn sức lực còn lại, tung hô lần cuối cùng: “Vạn Tuế Chúa KITÔ Vua!”

.. Linh mục Justino Orona Madrigal, 51 tuổi, cha sở họ đạo Cuquío, thuộc Tổng Giáo Phận Guadalajara. Sáng tinh sương ngày 1-7-1928, khi quân lính hùng hổ đột nhập nhà xứ, chúng dùng báng súng đập vào cửa, ra lệnh mở cửa. Cha Orona vừa bình tĩnh mở cửa vừa lớn tiếng tung hô: “Vạn Tuế Chúa KITÔ Vua!” Quân lính giơ súng giết ngài ngay tại chỗ.

.. Anh Manuel Morales, 28 tuổi, người cha gia đình có 3 đứa con nhỏ. Anh là thành viên nhiệt thành của hội Công Giáo Tiến Hành và là Chủ Tịch hội Bảo Vệ Quyền Tự Do Tôn Giáo Quốc Gia. Khi bị bắt cùng với cha sở và biết mình không thoát chết, anh nói với cha sở: “Con chết, nhưng Thiên Chúa không chết. Chính Ngài sẽ chăm sóc vợ và 3 đứa con nhỏ của con”. Trước khi bị bắn, anh Morales dùng toàn sức lực và tung hô lớn tiếng: “Vạn Tuế Chúa KITÔ Vua và Đức Bà Guadalupe!”

.. Ngày 5-2-1597, một đoàn 26 vị anh hùng được dẫn đến ngọn đồi Nishizaka ở Nagasaki, Nhật Bản, để chịu đóng đinh vào thập giá. Các vị can đảm đổ máu đào để minh chứng niềm tin và lòng trung thành đối với Đức GIÊSU KITÔ, Đấng Cứu Chuộc Nhân Loại. Đoàn hùng binh tử đạo gồm có: - 6 Linh Mục Thừa Sai dòng Phanxicô: 4 vị người Tây-Ban-Nha, 1 vị người Mễ- Tây-Cơ gốc Tây-Ban-Nha và 1 vị người Ấn-Độ gốc Bồ-Đào-Nha. - 3 thày Dòng Tên người Nhật. - 17 giáo dân Nhật-Bản, phần lớn thuộc Dòng Ba Phanxicô, trong đó có 5 giáo lý viên và 3 thiếu niên: Thomas Kozaki, Anthony và Louis Ibaragi.

Hơn 250 năm sau, ngày 8-6-1862, Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Pio 9 (1846-1878) đã tôn phong 26 anh hùng tử đạo Nhật-Bản lên hàng Hiển Thánh.

.. Thánh Thomas Kozaki, 15 tuổi, là quý tử của thánh Michael Kozaki, cũng thuộc đoàn hùng binh tử đạo. Năm lên 11 tuổi, Thomas bắt đầu lui tới tu viện và làm quen với các tu sĩ Phanxicô ở Kyoto. Cậu thường giúp đỡ các thày trong các công việc lặt vặt. Sau đó cậu trở thành đệ tử của dòng. Thomas tiến nhanh trên đường học vấn và tu đức, báo hiệu một tu sĩ Phanxicô giỏi giang và thánh thiện trong tương lai. Một thời gian ngắn sau đó, Thomas được di chuyển về giúp các tu sĩ Phanxicô ở Osaka. Trong chuyến tháp tùng một linh mục về Kyoto, Thomas Kozaki bị bắt và được diễm phúc tử đạo cùng với thân phụ.

Sau cuộc hành hình và khi xác 26 vị tử đạo được hạ xuống, một người Bồ-Đào- Nha đã tìm thấy trong túi áo ông Michael Kozaki, một lá thư ướt đẫm máu. Lá thư do cậu Thomas Kozaki viết cho mẹ. Trong thư, Thomas xin mẹ đừng lo lắng gì về Ba và về cậu, bởi vì cả hai cha con đang trên đường đi về thiên đàng và mong chờ ngày hội ngộ với mẹ trên thiên quốc. Thomas viết: “Mẹ nhớ đến ngay, mẹ nhé!” Rồi cậu viết thêm: “Mẹ phải hết lòng sợ tội, vì tội làm cho Chúa chúng ta phải đau khổ nhiều. Nếu mẹ lỡ phạm tội nào thì mẹ phải đi xưng tội ngay và xin Chúa tha tội cho mẹ. Những thú vui đời này thật chóng qua như giấc mộng. Do đó mẹ đừng quên hạnh phúc đích thực trên thiên quốc. Nếu có ai bách hại làm khổ mẹ, thì mẹ đừng oán ghét người đó. Hãy yêu thương và tha thứ cho người đó giống như Chúa GIÊSU đã làm xưa trên Thánh Giá. Mẹ nhớ săn sóc em con, mẹ nhé. Con hằng cầu nguyện cho mẹ và cho em con luôn”.

.. Thánh Anthony, 13 tuổi, sinh tại thành phố Nagasaki, trong một gia đình ngoại giáo, cha người Hoa và mẹ người Nhật. Khi còn nhỏ tuổi, Anthony là học trò của các cha Dòng Tên. Nhưng khi các tu sĩ dòng Phanxicô đến mở nhà tại Nagasaki, Anthony xin gia nhập đệ tử viện. Năm 1596, Anthony được đưa về sống ở tu viện tại Osaka. Nơi đây, 9 tháng sau, cậu bị bắt và bị treo trên thập giá tại Nagasaki.

Trong cuộc hành hình đều có mặt cả cha lẫn mẹ của Anthony. Hai ông bà đứng gần thập giá của con và khóc lóc thảm thiết. Nhưng Anthony can đảm an ủi cha mẹ: “Xin cha mẹ đừng buồn đừng khóc vì thấy con bị treo trên thập giá. Con chịu chết vì đạo nên con sẽ được trông thấy Chúa trên thiên đàng, nơi đây con sẽ nhớ đến cha mẹ cách riêng. Xin cha mẹ đừng khóc nhưng hãy can đảm lên, để cho những người ngoại giáo khác hiểu rằng, cha mẹ vui mừng vì quý tử của cha mẹ dám chịu đau khổ vì Đức Tin đã được nhận lãnh”.

.. Thánh Louis Ibaragi, 12 tuổi, là cháu của hai vị tử đạo khác, cũng thuộc đoàn hùng binh này. Cậu Louis chỉ lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội vỏn vẹn một năm trước khi được hồng ân tử đạo. Sau khi theo đạo Công Giáo, Louis gia nhập đệ tử viện của các tu sĩ Phanxicô tại Kyoto. Louis không phải là một cậu bé có nhiều tài năng xuất sắc, nhưng là thiếu niên rất can đảm. Suốt trong cuộc hành hình, Louis là niềm phấn khởi cho tất cả các vị tử đạo khác, vì niềm vui thơ ngây của cậu.

Trước khi bị đưa về hành hình tại đồi Nagasaki, cha Phanxico Blanco viết về Louis Ibaragi như sau: “Mọi người thán phục lòng can đảm của cậu bé. Một vị dòng dõi quý tộc nói với Louis: Cháu hãy chối bỏ Đức Tin khiến cháu phải chết và bằng lòng nhập gia tộc của bác thì bác sẽ cứu cháu sống. Nhưng Louis lễ phép thưa: Tốt hơn là ngài nên trở thành Kitô hữu để được vào thiên đàng giống như cháu vậy!”

Trong khi chờ đợi cuộc hành hình, mọi người cảm động đến rơi lệ khi trông thấy cậu bé Louis Ibaragi hớn hở, âu yếm ôm hôn cây thánh giá nhỏ dọn sẵn cho cậu. Trên thập giá, sau khi hát thánh vịnh 112 Ca ngợi Chúa đi, hỡi tôi tớ Chúa, Louis kêu lớn tiếng “THIÊN ĐÀNG, GIÊSU, MARIA”, rồi gục đầu tắt thở ..

4. DANH THÁNH ĐỨC GIÊSU KITÔ MANG LẠI ƠN CỨU ĐỘ.

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh Truyền Tin chung với tín hữu vào trưa Chúa Nhật 22-12-1996, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 đã suy niệm về danh thánh GIÊSU:

GIÊSU là tên của Đức KITÔ mà gia đình cùng bạn bè quen thuộc ở Nagiarét đã gọi Ngài. GIÊSU cũng là tên mà trong những năm hoạt động công khai, Đức KITÔ đã được đám đông tung hô và các bệnh nhân kêu cầu. Danh thánh GIÊSU biểu lộ thân thế và sứ vụ của Đấng Cứu Thế. Thật vậy, trong nguyên ngữ Do-Thái, GIÊSU có nghĩa là THIÊN CHÚA cứu. GIÊSU quả là danh thánh đáng được chúc tụng, nhưng đồng thời cũng là dấu chỉ mâu thuẫn, kết thúc bằng bản án tử được ghi trên Thánh Giá: “GIÊSU NAGIARÉT VUA DÂN DO THÁI”. Thế nhưng, từ đỉnh đồi Golgotha, danh thánh GIÊSU đã trở nên nguồn mạch sự sống, bởi vì, chính nhờ hy lễ tối cao Ngài dâng lên Thiên Chúa Cha mà toàn nhân loại đã được hưởng nhờ hồng ân hòa giải và bình an.. Nơi danh thánh GIÊSU, Hội Thánh tìm thấy tất cả nguồn mọi sự lành. Hội Thánh không ngớt kêu cầu và hăng say loan báo danh thánh GIÊSU. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo số 432 viết: “Danh thánh GIÊSU có nghĩa là Thiên Chúa hiện diện trong Con của Ngài làm người để cứu thoát hết mọi người tội lỗi”. Đây là danh thánh duy nhất mang lại ơn cứu độ cho con người.

Sách Công-Vụ Tông-Đồ kể lại: Các thủ lãnh Do-Thái, các kỳ mục và kinh sư điệu hai Tông Đồ Phêrô và Gioan ra giữa Hội Đồng và tra hỏi: “Nhờ quyền năng nào hay nhân danh ai mà các ông làm điều ấy?” Phêrô được đầy Thánh-Thần liền nói với họ: “Hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn về việc lành chúng tôi đã làm cho một người tàn tật, về cách thức người ấy đã được cứu chữa. Vậy xin tất cả quý vị cùng toàn dân Israel biết cho rằng: chính nhân danh ĐỨC GIÊSU KITÔ, NGƯỜI NAGIARÉT, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào Thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho sống lại từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh. Chính Đấng ấy là Tảng-Đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, lại trở thành Đá-Tảng-Góc-Tường. Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được ơn cứu độ” (4,5-11).

Đúng thế, dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, ngoại trừ danh thánh GIÊSU. Do đó chúng ta phải nhờ vào danh thánh GIÊSU để được ơn cứu độ. Chính Chúa GIÊSU cũng nói cho chúng ta biết quyền năng cứu độ của danh thánh Ngài mỗi khi chúng ta kêu cầu: “Nếu các con nhân danh Thầy mà cầu xin điều gì cùng Thiên Chúa Cha thì Người sẽ ban cho các con” (Gioan 16,23). Vì thế, ai kêu cầu danh thánh GIÊSU thì sẽ được cảm nghiệm điều giống như thánh sử Luca đã mô tả lại xưa kia: “Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng-lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người” (Luca 6,19).

Cũng trong bài huấn dụ vào trưa Chúa Nhật 22-12-1996, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 nói: “Chúng ta hãy tìm cách học biết về danh thánh Đức GIÊSU, đặc biệt trong năm 1997, năm đầu của tam niên chuẩn bị tiến tới Đại Năm Thánh 2000. (Năm 1997 được dành để đào sâu mầu nhiệm Đức GIÊSU KITÔ). Chúng ta hãy tập cho quen đặt danh thánh GIÊSU trong các lời cầu nguyện, cách riêng trong các lời kinh Phụng-Vụ. Chúng ta hãy áp dụng lời của thánh Phaolo chỉ dẫn: “Khi nghe danh thánh GIÊSU, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ”.. Mẹ MARIA đã bao lần xướng danh thánh GIÊSU với trọn tấm lòng trìu mến. Và Hội Thánh, trong khi chào kính Mẹ, cũng ghi thêm danh thánh GIÊSU, Con Mẹ, hoa trái đáng chúc tụng bởi lòng Mẹ: Kính mừng MARIA đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ, và GIÊSU Con Lòng Bà gồm phước lạ.. Ước gì Mẹ đặt danh thánh GIÊSU ngọt ngào lên môi miệng chúng ta và cho con tim chúng ta được cảm thấy sức mạnh cứu độ từ danh thánh GIÊSU”. .. Năm 1898, một thường dân sống ở Bonn, Đức quốc, bị mổ cổ họng. Cuộc mổ báo hiệu nhiều rủi ro trầm trọng. Trước khi mổ các bác sĩ cho biết, sau khi mổ, ông sẽ không còn nói được nữa và đề nghị: “Nếu ông muốn nói lời nào thì xin hãy nói vì đây là những lời sau cùng!” Bác sĩ cùng y tá im lặng chờ đợi. Mọi người tò mò muốn nghe “lời sau cùng”. Người bệnh trầm tư một lúc, xong ông nghiêng đầu xuống và tung hô:
VẠN TUẾ CHÚA GIÊSU KITÔ!


III. TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN, ĐẤNG THÁNH HÓA.

1. Lạy Chúa THÁNH THẦN xin ngự đến!

Lạy Chúa THÁNH THẦN xin ngự đến,
và tự trời tỏa ánh quang minh của Ngài ra!
Lạy Cha kẻ cơ bần, xin Ngài ngự đến,
Đấng ban ân huệ, Đấng soi sáng tâm hồn, xin ngự đến. Lạy Đấng an ủi tuyệt vời,
là khách trọ hiền lương của tâm hồn,
là Đấng ủy lạo dịu dàng.
Chúa là sự nghỉ ngơi trong cảnh lầm than,
là niềm an ủi trong lúc lệ rơi.
Ôi sự sáng chứa chan hồng phúc,
xin chiếu soi tràn ngập tâm hồn tín hữu của Ngài.
Nếu không có Chúa trợ phù,
trong con người còn chi thanh khiết,
không còn chi vô tội.
Xin Chúa rửa sạch điều nhơ bẩn,
tưới giội chỗ khô khan,
và chữa cho lành nơi thương tích.

Xin uốn nắn điều cứng cỏi,
sưởi ấm chỗ lạnh lùng,
chỉnh đốn lại chỗ trật đường.
Xin Chúa ban cho các tín hữu,
là những người tin cậy Chúa,
được ơn bảy nguồn.
Xin ban cho họ được huân nghiệp công đức,
được hạnh phúc cứu độ
và được hoan hỉ đời đời. AMEN.

“Lạy Chúa THÁNH THẦN xin ngự đến”. Con xin bắt đầu bài viết bằng lời kinh tha thiết dâng lên Ngài. Xin Ngài hướng dẫn và thánh hóa. “Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ, cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen”.

2. Tôi tin kính Đức Chúa THÁNH THẦN

là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống.
Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra
Người cùng được phụng thờ và tôn vinh
với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con
Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.
Trên đây là lời tuyên xưng của kinh Tin Kính Nicée-Constantinople, được dùng trong Giáo Hội Công Giáo theo nghi lễ La-tinh. Đức Chúa THÁNH THẦN được tuyên xưng là Đấng được “sai đến” bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, cũng y như Ngài bởi ”Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra”. Vì lý do đó, Ngài được gọi là Thần-Khí của Chúa Cha: “Khi người ta nộp anh em, anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì. Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần-Khí của Chúa Cha nói trong anh em” (Mt 10,19-20). Đức Chúa THÁNH THẦN cũng được gọi là Thần-Khí của Chúa Con: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần-Khí của Con Ngài đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Abba! Cha ơi!” (Ga 4,6). “Khi tới sát ranh giới Mysia, các ông thử vào miền Bithynia, nhưng Thần-Khí Đức GIÊSU không cho phép” (Công Vụ Tông Đồ 16,7).

Thiên Chúa - trong thiên tính toàn nhất - từ muôn thưở vẫn luôn luôn là CHA, CON và THÁNH THẦN. Khi nghĩ đến Thiên Chúa, con người không nên so sánh với các loài thụ tạo. Bởi lẽ, Thiên Chúa không thể nào so sánh được. Thiên Chúa là Đấng Tự-Hữu, Hằng-Hữu. Trong Thiên Chúa chứa đựng tất cả. Nhưng Thiên Chúa không có hình thể. Đấng Hằng-Hữu không mang xác phàm.

Có thể dùng hình ảnh Ánh Sáng để hiểu một chút về Thiên Chúa. Ánh sáng không mang xác thể. Chúng ta trông thấy ánh sáng nhưng không thể nào đụng chạm sờ mó được. Dầu vậy, ánh sáng vẫn hiện hữu thật sự.

Thiên Chúa Ba Ngôi Cha, Con và THÁNH THẦN là Ánh-Sáng, Ánh-Sáng vô biên, bất tận. Thiên Chúa Ba Ngôi là suối nguồn phát xuất từ chính mình, được nuôi dưỡng bởi chính mình và tự tác động trong chính mình. Vũ trụ bao la nhưng Thiên Chúa thì vô hạn. Bản Thể Ngài chất đầy trời cao, phủ khắp trái đất và chế ngự vực thẳm diêm sinh. Thiên Chúa không đi vào hỏa ngục, (bởi lẽ nếu hỏa ngục có sự hiện diện của Ngài, thì không còn là hỏa ngục nữa), nhưng Ngài đè bẹp hỏa ngục bằng ánh sáng chói chang của Ngài. Ánh-Sáng Thiên Chúa là phúc lành trên trời, là niềm an ủi dưới đất và là nỗi kinh hoàng trong hỏa ngục. Thiên Chúa là Đấng Tam-Vị Nhất-Thể, Một-Chúa Ba-Ngôi! Tất cả đều đồng nhất nơi Thiên Chúa: mô-thức, hiệu-năng và quyền-bính.

Thiên Chúa là Ánh-Sáng: Ánh-Sáng mênh mông, uy nghiêm và an hòa, được trao ban từ Thiên Chúa Cha. Ánh Sáng là chiếc vòng bất tận bao trùm toàn thể vạn vật, ngay từ lúc Thiên Chúa phán: Hãy có ánh sáng rồi trải qua muôn muôn thế kỷ, cho đến khi, sau ngày phán xét chung thẩm, ánh sáng lại trở về với Đấng Tạo Dựng nên nó. Lúc đó Ánh Sáng sẽ bao trùm những kẻ lành được hưởng phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa trên trời.

Bên trong chiếc vòng vĩnh cửu của Thiên Chúa Cha là chiếc vòng thứ hai, sinh ra từ Chúa Cha, có tác động khác với Chúa Cha, nhưng không trái nghịch với Chúa Cha, bởi vì, bản thể vẫn luôn luôn là MỘT. Chiếc vòng thứ hai là Chúa Con. Ánh Sáng của Chúa Con chói chang hơn và trao ban sự sống - nhờ hy lễ của Ngài - trao ban sự sống không những cho thân xác mà cho cả linh hồn nữa, sự sống mà con người đã đánh mất. Ánh Sáng của Chúa Con chan hòa những tia vừa mạnh vừa êm ái có sức nuôi dưỡng thân xác và giáo huấn linh hồn.

Bên trong chiếc vòng thứ hai, phát xuất từ tác động của hai chiếc vòng thứ nhất, là chiếc vòng thứ ba. Ánh Sáng từ chiếc vòng thứ ba lại càng chói chang và sinh động hơn nữa. Đó là Đức Chúa THÁNH THẦN. Ngài là Tình Yêu phát xuất từ quan hệ giữa Chúa Cha và Chúa Con, là trung gian giữa Chúa Cha và Chúa Con, là kết quả của Chúa Cha và Chúa Con và là kỳ công trổi vượt trên mọi kỳ công.

Tư-Tưởng phát ra Lời-Nói và Tư-Tưởng cùng Lời-Nói yêu nhau. Tình-Yêu là Chúa THÁNH THẦN. Chúa THÁNH THẦN hoạt động trên tinh thần, linh hồn và thân xác con người. Chính Ngài thánh hiến toàn diện con người, được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa Duy-Nhất và Ba-Ngôi. Chúa THÁNH THẦN là dầu thánh tuôn đổ trên mọi tạo vật do Thiên Chúa Cha dựng nên và tuôn đổ trên con người. Ngài là ơn thánh giúp con người biết tận dụng hy lễ của Chúa Con, là Khoa Học và Ánh Sáng giúp con người hiểu LỜI CHÚA. Chúa Thánh Thần là Ánh-Sáng mạnh nhất, bởi vì, Ánh-Sáng đó là thần linh của Thần Linh Thiên Chúa..

Chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ đã minh chứng quyền lực của Đức Chúa THÁNH THẦN khi Ngài quả quyết: “Các điều đó Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là THÁNH THẦN, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Gioan 14,25-26).

Nếu, “khi vừa nghe danh thánh GIÊSU, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái gối thờ lạy” (Phi 2,11), thì, trước “Đấng Bảo Trợ là Chúa THÁNH THẦN” mọi tinh thần phải cúi đầu thờ lạy, bởi vì, Đức Chúa THÁNH THẦN trao ban sự sống cho tinh thần. Chính Chúa THÁNH THẦN là Tình Yêu dựng nên Vũ Trụ muôn loài. Chính Ngài dạy bảo các Tôi Tớ đầu tiên của Thiên Chúa. Chính Ngài thúc đẩy Chúa Cha ban ra các Giới Răn. Chính Chúa THÁNH THẦN soi sáng các Tiên Tri, đã cùng với Trinh Nữ MARIA thụ thai Đấng Cứu Thế cũng như đã đặt Đấng Cứu Thế trên Thánh Giá. Cũng chính Đức Chúa THÁNH THẦN nâng đỡ các vị Tử Đạo, cai quản trị vì Giáo Hội và đã thực hiện những kỳ công của ơn thánh.

Đức Chúa THÁNH THẦN là Ánh-Sáng tuyệt trắng, trắng đến nỗi mắt trần cũng như nhân tính không thể nào chịu được. Ngài tiếp nhận trong chính Ngài cả Chúa Cha lẫn Chúa Con và là hạt Trân-Châu vô giá, tuyệt đẹp của Vẻ Đẹp Vĩnh Cửu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngự nơi Trời Cao, Đức Chúa THÁNH THẦN lôi cuốn về Ngài mọi trí khôn của Hội Thánh Khải Hoàn trên thiên quốc. Chúa THÁNH THẦN cũng thu hút về Ngài tất cả những người sống theo thần khí trong Giáo Hội còn đang chiến đấu nơi trần gian.

Chúng ta cùng chúc tụng: “Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa THÁNH THẦN. Như đã có trước vô cùng, và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. AMEN”.

3. Chúa THÁNH THẦN qua giáo huấn của Chúa GIÊSU.

Kinh Thánh, nhất là Tân Ước, trình bày Chúa THÁNH THẦN là Đấng có liên hệ đặc biệt với Chúa Cha và Chúa Con. Nhiều đoạn văn Tân Ước, cách riêng Phúc Âm theo thánh Gioan, làm nổi bật khuôn mặt của Chúa THÁNH THẦN. Nơi “Nhà Tiệc Ly”, trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ, Chúa GIÊSU giải thích cho các vị hiểu về nhiệm vụ của Chúa THÁNH THẦN:

“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo-Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần-Khí Sự Thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Gioan 14,15-17).

“Các điều đó Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là THÁNH THẦN, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Gioan 14,25-26).

“Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo-Trợ sẽ không đến với anh em. Nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Khi Người đến, Người sẽ minh chứng rằng: thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử. Về tội lỗi: vì chúng không tin Thầy; về sự công chính: vì Thầy đến cùng Chúa Cha, và anh em không còn thấy Thầy nữa; về việc xét xử: vì thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử rồi. Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần-Khí Sự Thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Gioan 16,7-15).

“Khi Đấng Bảo-Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần-Khí Sự Thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu” (Gioan 15,26).

... Năm 1431, tại tòa án Giáo Hội ở Rouen, Tây Bắc nước Pháp, một thanh nữ Công Giáo 19 tuổi, đã làm điên đầu các quan tòa xét xử cô. Bằng thái độ giản dị khiêm tốn, với lòng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa và vào Giáo Hội Ngài, cô đã điềm tĩnh trả lời tất cả những vấn nạn về sứ mệnh cao cả mà Thiên Chúa muốn cô phải chu toàn. Nhưng rồi cuối cùng cô bị kết án rối đạo và tà giáo, nên bị thiêu sống. Trên giàn hỏa thiêu, giữa đám lửa rực cháy, cô chỉ kêu cầu một danh thánh duy nhất: “GIÊSU, GIÊSU, GIÊSU” .. như lời giải thích cho sức mạnh vô biên, đã giúp cô can đảm chấp nhận cái chết rùng rợn, khủng khiếp đối với một thanh nữ.

Thanh nữ nói trên chính là thánh nữ Jeanne d'Arc (1412-1431), anh hùng nước Pháp. Jeanne là thiếu nữ đồng quê, không biết đọc biết viết. Nhưng bù lại, cô có tâm hồn trong sáng, giản dị và niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa cùng với lòng tha thiết mến yêu Giáo Hội Ngài.

Trước tòa án, vì chủ ý gán ghép cho Jeanne tội rối đạo và tà giáo, nên thẩm phán đoàn tìm đủ mọi cách để bắt tội cô. (Thẩm phán đoàn do đức cha Pierre Cauchon, giám mục Beauvais, làm chủ tịch cùng với các nhà thần học Công Giáo tên tuổi thời bấy giờ). Dầu vậy, Jeanne vẫn không hề nao núng. Cô bình tĩnh trả lời từng câu hỏi một, với ngôn ngữ vừa bình dân trong sáng, vừa đượm đầy tính chất thần học vững chắc.

Khi quan tòa hỏi: “Cô có chắc là cô đang sống trong tình trạng được ơn nghĩa với Chúa không?”, Jeanne trả lời: “Nếu con không có ơn Chúa, Chúa sẽ ban cho con. Nếu con có rồi, Ngài sẽ gìn giữ con. Con nghĩ rằng, nếu con mắc tội trọng, hẳn con không nghe được tiếng nói của Trời Cao. Và con cầu mong cho mọi người cũng nghe được tiếng nói này y như con vậy!”

Quan tòa lại hỏi: “Tiếng nói Trời Cao bảo rằng, cô sẽ được lên Thiên Đàng. Phần cô, cô có tin chắc là cô được cứu rỗi không?”. Jeanne trả lời: “Con tin vững vàng Tiếng Trời Cao nói với con là con sẽ được cứu rỗi. Con tin vững vàng đến độ y như con đã được lên Thiên Đàng rồi vậy”.

Quan tòa hỏi vặn: “Nếu như thế thì cô đâu cần phải xưng tội, bởi vì cô tin nơi lời của Trời Cao là cô sẽ được cứu rỗi?”. Jeanne trả lời: “Con không biết. Nhưng xin quý ngài nhớ rằng, không bao giờ chúng ta biết gột rửa lương tâm mình cho sạch đủ đâu!”

Quan tòa lại quay sang hạch hỏi Jeanne về sứ mệnh của cô, sứ mệnh mà Jeanne không ngừng quả quyết là cô nhận lãnh từ Trời Cao, để giải thoát nước Pháp ra khỏi ách thống trị của người Anh. Quan tòa hỏi: “Tất cả những gì cô nói và làm, cô có sẵn sàng tuân theo phán quyết của Giáo Hội không?”.

Jeanne đáp: “Mọi việc con làm đều do lệnh của Chúa và con phó thác tất cả trong tay Ngài. Con xin quả quyết với quý ngài là con không hề muốn nói hay làm điều gì trái nghịch với Đức Tin Công Giáo. Con yêu mến Giáo Hội Công Giáo và làm hết sức để bảo vệ Đức Tin Công Giáo. Con không phải là người khiến cho Giáo Quyền phải lo lắng và ngăn cấm con đi nhà thờ hoặc tham dự thánh lễ. Về các việc con làm và về sứ mệnh của con, con xin chịu trách nhiệm trước mặt Vua Cả Trời Cao. Chính Ngài đã ra lệnh cho con phải thi hành. Con cũng xin chịu trách nhiệm trước mặt Đức Mẹ cùng toàn thể các thánh nam nữ. Đối với con, Thiên Chúa và Giáo Hội Ngài là MỘT, đâu có gì rắc rối phức tạp! Còn quý ngài, tại sao quý ngài cứ muốn làm cho nó trở thành phức tạp và rắc rối như vậy?”.

Quan tòa nói tiếp: “Đó là cô nói đến Giáo Hội Thiên Quốc. Nhưng đối với Giáo Hội ở trần gian này, cô có bằng lòng tuân phục không?”. Jeanne trả lời: “Con đến với Vua Nước Pháp (Charles VII) theo lệnh của Chúa, Đức Mẹ và Các Thánh trên Trời. Đó là Giáo Hội Khải Hoàn Thiên Quốc. Con sẵn sàng tuân theo mọi chỉ thị và phán quyết của Giáo Hội Thiên Quốc về tất cả những gì con nói và làm. Còn về việc tuân phục các phán quyết của Giáo Hội nơi trần thế, thì lúc này đây, con xin tạm miễn trả lời”.

Quan tòa quay sang một đề tài khác: “Cô có muốn chúng tôi tổ chức rước kiệu để cầu cho cô được nhiều ơn lành không?”. Jeanne khiêm tốn đáp: “Con rất muốn được Giáo Hội và các tín hữu Công Giáo cầu cho con”. Quan tòa hỏi thêm câu nữa: “Cô không nghĩ là cô phải tuân phục Giáo Hội ở trần thế này, nghĩa là tuân phục Đức Thánh Cha, các Hồng Y và giám mục sao?”. Jeanne trả lời ngay không chút do dự: “Có chứ. Nhưng trước hết và trên hết, con phụng sự và tuân phục Thiên Chúa chúng ta”.

Dù hoàn toàn vô tội, Jeanne d'Arc vẫn bị tòa án Giáo Hội kết tội rối đạo và bị thiêu sống ngày 30-5-1431. Năm ấy cô vừa tròn 19 tuổi. Năm 1920, Đức Thánh Cha Benedetto XV tôn phong nữ anh hùng Jeanne d'Arc lên bậc hiển thánh.

... Tên lý hình tiến lại gần tử tội, giơ chiếc băng định bịt mắt, nhưng tử tội lùi ra một bước và nói: “Cứ để tôi tự bịt lấy”. Xong, ông bình tĩnh kê đầu lên trên tấm thớt và xin người lý hình đợi một giây để ông có giờ gạt bộ râu qua một bên. Ông hóm hỉnh giải thích: “Bởi vì bộ râu này không can tội phản bội nhà vua!”

Tử tội vừa nói là thánh Thomas More (1478-1535), vị đại thần làm chưởng ấn của triều đình vua Henri VIII (1491-1547) bên Anh Quốc. Là vị quan thanh liêm và tài giỏi, ông rất được nhà vua kính nể trọng vì. Nhưng con đường danh vọng không kéo dài lâu. Vua Henri 8 muốn ly dị vợ để cưới nữ tì của vợ, đồng thời muốn tách rời khỏi Giáo Hội Công Giáo Roma và tự xưng là thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo Anh Quốc. Dĩ nhiên hai quyết định trên đây của nhà vua bị vị trung thần Thomas More kháng cự. Để bóp nghẹt tiếng nói lương tâm, nhà vua truyền tống ngục, rồi xử tử quan chưởng ấn Thomas More.

Trong một phiên xử, tòa tuyên án quan Thomas More can tội phản bội nhà vua nên bị xử treo cổ, bị mổ ruột rồi bị phân thây. Tuy nhiên, quan tòa nói tiếp: “Vì lòng khoan hồng, nhà vua truyền đổi án trên thành án trảm, nghĩa là chỉ bị chặt đầu”. Nghe vậy, thánh Thomas More liền nói lớn: “Xin Chúa gìn giữ cho mấy đứa con cùng bạn hữu tôi, thoát khỏi lòng khoan hồng của nhà vua!” Sau cùng quan tòa hỏi: “Tử tội có cần nói thêm gì không?”. Quan Thomas More đáp:

- Tôi chả có gì để thêm, ngoài niềm hy vọng và lời khẩn cầu tha thiết: xin cho quý vị đã kết án tôi ở dưới thế gian này, được cùng tôi vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau trên trời. Trong khi chờ đợi, xin Thiên Chúa luôn ở cùng quý vị và ở cùng nhà vua. Xin Thiên Chúa ban cho nhà vua có được những cộng sự viên trung tín và ngay thật.

Từ khi bị tống ngục cho đến khi bị kết án tử hình, quan Chưởng ấn Thomas More vẫn luôn giữ nét điềm tĩnh và tươi vui hóm hỉnh của một chiến sĩ đức tin, xem cái chết nhẹ như bông-gòn! Cho đến phút chót của cuộc đời, quan vẫn đủ nghị lực để khôi hài. Mấy ngày trước khi cho thi hành án tử, vua Henri 8 sai người đến tận ngục thất để cố gắng thuyết phục quan chưởng ấn thay đổi ý kiến. Vừa nghe xong, ông Thomas More mỉm cười đáp ngay: “Đúng là điều tôi vừa làm!” Vô cùng mừng rở, vị quan kia tức tốc chạy về báo tin cho nhà vua biết. Vì quá rõ tính tình của quan Chưởng ấn Thomas More, nên nhà vua hỏi gặn: “Có chắc là nhà ngươi nghe rõ như vậy không? Phải hỏi lại cho thật kỹ”. Khi vị quan kia trở lại ngục thất, thì được nghe quan chưởng ấn Thomas More mỉm cười giải thích: “Đúng là ông bạn của tôi có tính nghi ngờ rồi! Nhưng quả thật ông bạn muốn biết tôi thay đổi ý định gì phải không? Đó là, ngày còn làm việc trong triều, tôi vẫn hàng ngày cạo râu, thể theo tư cách phải có của các vị quan. Nhưng từ ngày bị giam, tôi đã để râu mọc dài. Cách đây vài ngày, tôi có ý định cạo nhẵn bộ râu để xứng đáng bước ra pháp trường. Nhưng rồi hôm nay, tôi lại thay đổi ý định: Tôi muốn rằng, giữa bộ râu và chiếc đầu của tôi, không mảy may có sự khác biệt!”

Sáng tinh sương ngày 6-7-1535, một người bạn của quan Chưởng ấn đến báo tin là ông sẽ bị hành quyết lúc 9 giờ. Quan Thomas More đáp: “Cám ơn bạn đã mang tin vui đến cho tôi”. Người bạn nói tiếp: “Nhà vua cho phép Margaret, ái nữ của ông được có mặt trong nghi lễ an táng của ông”. Quan Thomas More lịch sự trả lời: “Tốt lắm. Lại thêm một ân huệ khác của nhà vua đối với mồ chôn của tôi”. Người bạn cảm động, không biết nói thêm gì. Ông ta lặng lẽ khóc. Thấy vậy, quan Thomas More lại bình tĩnh an ủi bạn: “Hãy can đảm lên. Tôi tin rằng một ngày kia chúng ta lại được vui vẻ gặp lại mhau, tại nơi mà chúng ta biết chắc chắn rằng, sẽ không còn chia ly, và chúng ta sẽ yêu mến nhau mãi mãi”.

Tới nơi hành quyết, quan Thomas More quỳ xuống và sốt sắng đọc kinh MISERERE, Xin Thương Xót. Đọc xong, ông vui vẻ đứng lên. Người lý hình tiến lại gần ông, và theo thủ tục, anh ta lấp bấp lời xin lỗi. Nhưng quan Thomas More ôm hôn anh ta, đặt vào tay anh một đồng tiền vàng và nói: “Ngày hôm nay con làm cho ta một điều mà không người nào ở thế gian này có thể làm được. Vậy hãy can đảm và đừng sợ hãi gì khi thi hành nghề nghiệp của con. Ta chỉ xin con mỗi một điều: chiếc cổ của ta hơi ngắn, nên con ý tứ đừng chém lệch. Hãy nhắm cho đúng!”

(Chúa nhật 5-11-2000, nhân Ngày Năm Thánh giới chính trị quốc tế, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 đã tôn phong thánh Thomas More làm Quan Thày các nhà cầm quyền và chính trị gia).

4. “Xin Đức Chúa THÁNH THẦN xuống đầy lòng chúng con và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con”.

Mỗi tín hữu Công Giáo được khuyến khích năng khẩn cầu cùng Đức Chúa Thánh Thần. Xin Ngài ngự xuống trong lòng để soi sáng và hướng dẫn. Nhưng mỗi tín hữu cũng nên nhớ rằng, để được Chúa THÁNH THẦN ngự xuống và tác động tự do trong lòng, mỗi người cần phải chuẩn bị một con tim đầy tràn bác ái, trung tín, trong sạch, cầu nguyện và khiêm tốn.

Nơi con tim nào đầy dẫy oán thù, thất trung, nhơ nhớp, ồn ào và kiêu căng, không có chỗ cho Chúa THÁNH THẦN ngự vào và tác động.

Mỗi tín hữu có mẫu gương tuyệt hảo để noi theo. Đó là Nữ Trinh Rất Thánh MARIA. Đức Mẹ là Đền Thờ, là Hiền-Thê của Chúa THÁNH THẦN và Chúa THÁNH THẦN là Đức Lang Quân của Mẹ. Do đó, Mẹ biết rõ kho tàng bí ẩn tình yêu. Chúng ta hãy chạy đến cùng Mẹ và van xin Mẹ cầu thay nguyện giúp.

“Lạy Chúa THÁNH THẦN xin ngự đến, xin hãy đến nhờ lời chuyển cầu vạn năng của Trái Tim Vẹn Sạch Đức MARIA, Hiền-Thê dấu ái của Ngài”.

IV. TÔI TIN KÍNH ĐỨC MARIA TRỌN ĐỜI ĐỒNG TRINH.

Xin chọn kinh Kính Mừng làm đề tài cho những suy tư về Trinh Nữ Rất Thánh MARIA.

Kính mừng MARIA đầy ơn phúc,
Đức Chúa Trời ở cùng Bà,
Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ,
và GIÊSU Con lòng Bà gồm phúc lạ.
Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời
cầu cho chúng con là kẻ có tội,
khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

1. Kính mừng MARIA đầy ơn phúc.

Kính mừng MARIA là lời thiên sứ Gabrie chào kính Trinh Nữ MARIA. Đây là lời chào kính có sức thanh luyện môi miệng và con tim người xướng lên nó. Bởi vì, không thể chào kính Trinh Nữ MARIA - với trọn ý thức và tâm tình trìu mến - mà không thể cảm thấy mình trở nên tốt lành hơn. Giống như khi con người tiến đến gần nguồn mạch ánh sáng thiên thần và đến gần ốc đảo có ngàn vạn cánh huệ đang nở hoa thơm ngát vậy.

Kính mừng MARIA là lời tổng lãnh thiên thần Gabrie chào kính Đức MARIA, Người được Thiên Chúa Ba Ngôi chào với tình yêu thương. Lời chào Kính mừng MARIA có sức mạnh cứu thoát. Do đó, các tín hữu Kitô được khuyến khích liên lĩ chào kính Mẹ, không phải chỉ bằng môi miệng, nhưng với trọn tinh thần và con tim. Tinh thần tín hữu cúi rạp trước vẻ uy linh của Trinh Nữ MARIA và con tim tín hữu hướng về Khiết Tâm Hiền Mẫu MARIA.

Nếu một tín hữu biết nói Kính mừng MARIA với trọn tinh thần - dù chỉ nói vỏn vẹn Kính mừng MARIA thôi - cũng đủ giúp tín hữu đó trở nên tốt lành hơn, trong sạch hơn và bác ái hơn. Bởi vì, nếu đôi mắt tinh thần của tín hữu chăm chú nhìn Trinh Nữ MARIA, sự thánh thiện của Đức MARIA sẽ thấm nhập vào con tim của tín hữu. Đức MARIA là suối nguồn ơn thánh và lòng từ bi. Nếu chúng ta biết luôn luôn đọc câu Kính mừng MARIA chúng ta sẽ không bao giờ bị rơi vào hố thẳm tuyệt vọng. Cánh cửa của lòng từ bi Thiên Chúa chẳng những được mở ra nhờ bàn tay của Trinh Nữ MARIA chạm đến, nhưng còn được mở ra bởi nguyên cái nhìn cầu khẩn của Mẹ. Phúc cho môi miệng nào biết kính cẩn chào kính MARIA.

Đức MARIA là Ái-Nữ của Thiên Chúa Cha, là Từ-Mẫu của Thiên Chúa Con và là Hiền-Thê của Chúa THÁNH THẦN. Sự kết hiệp giữa Trinh Nữ MARIA với Thiên Chúa Ba Ngôi đạt mức độ hoàn hảo. Bởi vì, Đức MARIA được lãnh nhận cách viên mãn từ Thiên Chúa: quyền lực, trí thông minh và sự khôn ngoan.

Thật vô ích khi đến cùng Đức MARIA với tâm hồn đầy nhơ nhớp và con tim đầy oán thù. Đức MARIA là Từ-Mẫu và Mẹ biết chăm sóc các vết thương của con cái Mẹ. Nhưng Mẹ muốn rằng, khi con người chạy đến với Mẹ thì ít ra tâm lòng con người phải ước ao được chữa lành khỏi mọi vết nhơ tội lỗi. Ích gì cho con người, chạy đến cùng Đức MARIA, Người Nữ Trinh Khiết Vẹn Tuyền, nhưng ngay sau đó, lại phạm tội nhơ nhớp hoặc buông lời thóa mạ??? Ích gì cho con người, chạy đến cùng Đức MARIA, Người Nữ Từ Bi Nhân Hậu, nhưng trong lòng đầy dẫy oán thù và trên môi miệng nói lời nguyền rủa anh chị em mình??? Làm sao con người có thể lãnh nhận ơn cứu độ từ nơi Đức MARIA, Người Nữ Cứu Độ, nếu con người phá tán ơn cứu rỗi bằng chính ý muốn đồi bại của mình?

Lòng Từ Bi Thiên Chúa và quyền năng Đức MARIA làm được mọi sự, nhưng sao con người lại đợi mãi đến giây phút cuối của cuộc đời, vào giờ lâm tử, mới hồi tâm thống hối, xin ơn cứu rỗi đời đời? Không ai biết được khi nào Chúa đến gọi về với Ngài. Vậy tốt hơn cả là nên bắt mối giây liên hệ thân ái và sống tâm tình hiếu thảo chân thật với Mẹ MARIA, ngay từ giờ phút này, để được bảo đảm sẽ lãnh nhận ơn cứu rỗi đời đời vào giờ sau hết. Tình thân hữu với Đức MARIA là bảo chứng đưa đến sự trọn lành. Ai yêu mến Đức Mẹ chắc chắn sẽ được nên thánh và được cứu rỗi. Đức GIÊSU KITÔ cứu chuộc con người bằng Đau-Khổ và bằng Bảo-Huyết của Ngài. Đức MARIA cứu chuộc con người bằng Đau-Khổ và bằng Nước-Mắt của Mẹ và Mẹ ước muốn cứu chuộc con người bằng Tình-Yêu và bằng Nụ-Cười của Mẹ nữa.

Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie thưa cùng Trinh Nữ MARIA: “Kính chào” và âm giọng của tiếng nói thiên sứ mang đến cho Trinh Nữ - Đấng đã đầy tràn ơn phúc - một đợt ơn phúc mới.

Lòng khiêm-tốn, tính sẵn-sàng, sự kín-đáo và lời cầu-nguyện nơi Trinh Nữ MARIA đạt mức độ thập toàn.. Đặc ân Vô-Nhiễm-Nguyên-Tội là một hồng ân trọng đại mà Thiên Chúa dành riêng cho Trinh Nữ MARIA, Người trở thành Nhà-Tạm đầu tiên chứa đựng Thánh-Thể của Thiên Chúa Con. Thế nhưng, không nên quên rằng, công đức riêng của Trinh Nữ MARIA quả thật đối-xứng với trăm triệu ân lành Thiên Chúa ban cho Mẹ .. Nơi một thụ tạo khác, khi được lãnh nhận những đặc ân thiêng liêng, hẳn có thể trở thành kiêu căng, hoặc đâm ra bất cẩn. Nhưng nơi Trinh Nữ MARIA thì không như vậy. Càng được Thiên Chúa nâng cao, Đức Mẹ càng tỏ ra tri ân, yêu thương và khiêm tốn. Càng biết mình được Bàn Tay Quan Phòng Thiên Chúa che chở khỏi mọi hiểm nguy sự dữ, Đức MARIA càng gia tăng việc cẩn trọng chống lại sự dữ.. Từ sáng sớm đến chiều tối, từ khi mở mắt chào đời đến lúc về trời cả Hồn lẫn Xác, linh hồn trinh khiết của Mẹ MARIA không ngừng một giây tỉnh thức canh phòng.

Đừng lầm lẫn khi nghĩ rằng, Đức MARIA không bị ma quỷ cám dỗ. Nếu Đức GIÊSU KITÔ không thoát cảnh bị ma quỷ cám dỗ, thì càng có lý do gấp đôi để hiểu rằng, Đức MARIA cũng không thoát cảnh bị ma quỷ cám dỗ. Thứ nhất, Đức MARIA là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng vẫn luôn luôn là một thụ tạo, trong khi Đức GIÊSU KITÔ là Thiên Chúa. Thứ hai, đối với Luxiphe (Satan): phá hoại cung lòng Người Nữ sẽ cưu mang Đức KITÔ thì quan trọng hơn tấn công chính Đức KITÔ.. Tên tướng quỷ Luxiphe xảo quyệt biết rõ rằng: Ngôi Lời sẽ nhập thể làm người, trong cung lòng một Người Nữ không dính vết bợn nhơ. Nghĩa là, không mảy may có tội, dù tội nhẹ.. Nếu kể từ sau bà Evà, ma quỷ đã thành công trong việc cám dỗ mọi người nữ, thì ma quỷ đã gặp sức kháng cự quyết liệt của một phụ nữ duy nhất: Đức MARIA. Đức MARIA là

Người Nữ Duy Nhất chiến thắng ma quỷ, đạp tan đầu quỷ dữ!. Chỉ mình Thiên Chúa biết rõ trận chiến cam go giữa Trinh Nữ MARIA và quỷ dữ và cuộc chiến thắng của Đức MARIA trên quỷ dữ. Đức MARIA đã chiến thắng quỷ dữ bằng chính ý chí sắt đá của mình. Đức MARIA đã nhất quyết sống thánh thiện để chỉ làm đẹp lòng một mình Thiên Chúa mà thôi..

Đó là lý do giải thích lời tổng lãnh thiên thần Gabrie chào kính Trinh Nữ MARIA: “Kính mừng MARIA đầy ơn phúc!” Phải, Đức MARIA là Người Nữ đầy ơn phúc. Ơn Phúc luôn luôn ở với Mẹ. Ơn Phúc là Thiên Chúa. Ơn phúc tức là hồng ân Thiên Chúa và chỉ mình Đức MARIA biết làm cho ơn phúc sinh lợi gấp trăm nghìn lần..

Đối với tín hữu Kitô, muốn được Đức GIÊSU KITÔ ngự trị trong tâm hồn, tín hữu phải sống phù hợp với ơn phúc, tiếp nhận ơn phúc, làm sinh hoa kết quả ơn phúc và khao khát ơn phúc. Giống như thân xác cần hít thở không khí và nuôi dưỡng bằng lương thực, linh hồn cũng cần hít thở bằng ơn phúc. Linh hồn nào có ơn phúc thì Ánh Sáng Thiên Chúa sẽ chiếu dọi và Đức KITÔ có thể đến và sinh ra cách huyền nhiệm nơi linh hồn giống y như xưa kia đã nhập thể thật sự và sinh ra nơi Trinh Nữ MARIA vậy.

“Kính mừng MARIA đầy ơn phúc”. Tín hữu kính cẩn chào kính Mẹ với trọn lòng yêu mến. Tín hữu chiêm ngưỡng Mẹ và học nơi Mẹ tâm tình sống phù hợp với ơn thánh. Đặc biệt giới nữ khiêm tốn rút ra bài học: “Không có ơn thánh, con người biến thành quỷ dữ và thế giới biến thành hỏa ngục”.

2. Đức Chúa Trời ở cùng Bà.

Thiên Chúa luôn ở cùng linh hồn có ơn phúc. Thiên Chúa không bao giờ lìa xa linh hồn, ngay cả khi quỷ dữ mon men đến gần để cám dỗ con người. Thiên Chúa chỉ đi khỏi con người, khi con người rơi vào chước cám dỗ, tiếp nhận quỷ dữ, tự để cho quỷ dữ làm hại linh hồn mình. Chỉ khi đó, Thiên Chúa mới lìa xa con người, bởi vì, Thiên Chúa không thể ở chung với kẻ-thù là quỷ dữ. Thiên Chúa lìa xa con người với lòng đau đớn, và như người cha hiền, Thiên Chúa nhẫn nhục chờ đợi, hễ người con ăn năn thống hối, tức khắc Thiên Chúa trở lại kết hiệp mật thiết với linh hồn.

Thiên Chúa luôn luôn ước muốn ở với loài người. Nếu mỗi một Thánh Thiên Thần Bản Mệnh có thể chào kính từng người: “Thiên Chúa ở cùng bạn”, hẳn Thiên Chúa sẽ hài lòng biết bao! Niềm vui lớn lao nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi là ở với con cái loài người. Chính vì thế mà Thiên Chúa đã dựng nên con người.

Trinh Nữ MARIA ở với Thiên Chúa và Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ MARIA. Hai Đấng Hoàn-Hảo thu hút lẫn nhau và kết hiệp chặt chẽ với nhau trong cùng một tâm tình trìu mến. Thiên Chúa - Đấng Hoàn-Hảo vô biên - đã hân hoan ngự xuống để kết hiệp với thụ tạo hoàn hảo duy nhất là Trinh Nữ MARIA. Đức MARIA luôn hướng về Thiên Chúa Hoàn-Hảo hầu kín mức mạnh để sống.

Vâng, đúng thế. Ở với Thiên Chúa là lẽ sống duy nhất của Trinh Nữ MARIA. Chính vì thế, trong những giờ phút thử thách cay đắng nhất - trên Núi Sọ và lúc Chúa GIÊSU bị mai táng trong mồ - khi Cửa Trời khép lại trên Đức GIÊSU và trên Đức MARIA, khi Thiên Chúa bỏ rơi hai Vị Hiến-Tế, thì nổi đau đớn của Trinh Nữ MARIA đạt mức độ tột đỉnh! Nổi đau đớn của Đức GIÊSU KITÔ đạt tột đỉnh từ vườn Giệtsêmani cho đến khi gục đầu tắt thở trên Thánh Giá. Nổi đau đớn của Trinh Nữ MARIA đạt tột đỉnh từ đỉnh đồi Calvario cho đến khi Đức GIÊSU KITÔ sống lại hiện ra đầu tiên với Đức Mẹ. Cả hai nổi đau đớn tột đỉnh cùng có một lý do duy nhất: bị tách lìa khỏi sự kết hiệp với Thiên Chúa.

Đáng lý con người cũng cảm thấy nổi đau đớn vô cùng khi bị tách lìa khỏi sự thông hiệp với Thiên Chúa. Nhưng đáng buồn thay, con người tội lỗi ngày nay không còn nhạy cảm trước nổi khốn khổ của mình khi sống không có Thiên Chúa nữa. Khốn khổ, mù lòa, điên khùng, cái chết là những hậu quả tất nhiên của một cuộc sống đánh mất niềm kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người.

Nếu một người bị mất tiền, mất một đồ vật, mất sức khoẻ, mất việc làm, hẳn sẽ xoay xở mọi cách để tìm lại cho được điều vật bị đánh mất. Vậy mà, khi đánh mất Thiên Chúa, con người không mảy may lo lắng, tìm kiếm. Con người không biết chạy đến cùng triều thần thiên quốc xin giúp đỡ để bắt lại mối giao hòa với Thiên Chúa. Lầm lẫn của con người ở chỗ: sống xa lìa Thiên Chúa không phải là điều quan trọng. Trong khi đó, sống xa lìa Thiên Chúa mới là điều tệ hại khốn cùng nhất của con người. Bởi vì, chính sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa đem lại cho con người hạnh phúc đích thực ở đời này và mãi mãi đời sau.

Trinh Nữ MARIA không bao giờ lìa xa Thiên Chúa. Sống hiệp nhất với Thiên Chúa là sức mạnh vô biên và là chiếc áo giáp che chở Trinh Nữ MARIA khỏi sức tấn công vũ bão của quỷ dữ. Trinh Nữ MARIA - với lòng khiêm tốn tột cùng - đã không bao giờ dám nghĩ mình là thụ tạo hoàn hảo nhất. Trong thời thơ ấu, Trinh Nữ hoàn toàn không biết gì về định mệnh hồng phúc đời mình và về việc mình được đặc ân vô nhiễm nguyên tội. Trinh Nữ MARIA chỉ nhận biết mầu nhiệm này trong ngày được truyền tin, qua lời nói của tổng lãnh thiên thần Gabrie và qua việc kết hôn huyền nhiệm với Chúa THÁNH THẦN.

Tâm hồn nào kết hiệp với Thiên Chúa thì được no thỏa mọi sự và không ước muốn hoặc tìm kiếm điều gì khác, ngoài Thiên Chúa. Hơn thế nữa, người nào ở với Thiên Chúa thì nhận được một quyền lực siêu nhiên, có thể thông truyền Thiên Chúa cho người khác, khiến người khác phải buột miệng trầm trồ: người này đúng là một vị thánh!

Trinh Nữ MARIA sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa trong mức độ hoàn hảo nhất. Có thể nói rằng: Trinh Nữ MARIA tiêu-hủy mình đi trong Thiên Chúa, bởi vì, Trinh Nữ MARIA chỉ sống vì Thiên Chúa mà thôi.

Ước gì mỗi tâm hồn noi gương Trinh Nữ MARIA sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Như thế, con người luôn sống trong tâm tình cầu nguyện, luôn có thân xác và con tim trong sạch, luôn có tư tưởng ngay chính, luôn sống thánh thiện và nhân từ. Nếu mọi người đều sống như vậy thì trần gian này sẽ được trông thấy những ngày tươi sáng và các Thánh Thiên Thần có thể hân hoan chào kính loài người rằng: Đức Chúa Trời ở cùng anh chị em!

3. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ.

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ là lời ca tụng mà thường thường tín hữu Công Giáo không ý thức đủ ý nghĩa mỗi khi đọc kinh Kính Mừng. Tín hữu Kitô cũng quên không chúc phúc Đức MARIA, Người Nữ đã sẵn sàng chấp nhận hy sinh để khởi đầu công trình cứu chuộc loài người.. Trong khi đó, lời chúc phúc không ngừng vang vọng trên thiên quốc. Thiên Chúa Ba Ngôi chúc lành Trinh Nữ MARIA bằng tình yêu vô biên. Những linh hồn được cứu chuộc - nhờ hy lễ của Đức GIÊSU và Đức MARIA - chúc tụng Trinh Nữ MARIA với trọn tâm tình tri ân và các Thánh Thiên Thần chúc phúc Đức MARIA với tất cả trìu mến. Toàn thể triều đình thiên quốc chúc phúc Đức MARIA, kỳ công tuyệt tác của Đấng Tạo Hóa và của lòng Từ Bi Thiên Chúa.

Trinh Nữ MARIA là chứng tá hùng hồn nhất cho sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, nhưng nhất là, cho Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa khi dựng nên trời đất muôn vật. Chưa hết. Trinh Nữ MARIA chính là chứng tá sống động cho tình-yêu siêu-đẳng, nhân-hậu vô-biên của Thiên Chúa đối với loài người tội lỗi. Bởi vì, qua Trinh Nữ MARIA, Mẹ Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa đã thực hiện chương trình cứu độ toàn thể loài người. Đức GIÊSU trở thành Đức GIÊSU KITÔ, bởi vì, Trinh Nữ MARIA đã thụ thai và đã trao ban Đức GIÊSU KITÔ cho thế giới.

Vai trò của Trinh Nữ MARIA trong công trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa Ba Ngôi quả là một mầu nhiệm và các tín hữu Kitô chỉ có thể hiểu được trọn vẹn mầu nhiệm này ở trên Thiên Quốc mà thôi. Trinh Nữ MARIA đã từng được chúc phúc là: thụ tạo tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa Cha; niềm vui thiên quốc; ơn cứu độ trái đất; cánh hoa đẹp nhất trong vườn hoa vũ trụ; tinh tú chói sáng trổi vượt mọi tinh tú trên bầu trời.

Sau Thiên Chúa Ba Ngôi, Trinh Nữ MARIA là Thụ Tạo duy nhất xứng đáng lãnh nhận mọi lời chúc phúc:

Đức MARIA có phúc vì là Người Nữ “cực thanh cực tịnh, cực tinh cực sạch, tuyền vẹn mọi đàng”, được dựng nên vì Thiên Chúa.
Đức MARIA có phúc vì là Người Nữ được Thiên Chúa Ba Ngôi ước muốn ngự trị trong cung lòng và đổ tràn Tình Yêu của Ngài vào đó.
Đức MARIA có phúc vì là Người Nữ Chiến Thắng, đã dùng gót chân đạp tan đầu tên cám dỗ bằng chính bản tính trinh khiết của mình.
Đức MARIA có phúc vì là Người Nữ trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế bằng lòng tuân phục hoàn toàn thánh ý Đấng Toàn Năng.
Đức MARIA có phúc vì là Người Nữ Cứu Chuộc người phụ nữ và con cái người phụ nữ, vì đã thay thế bà Evà cưu mang sự sống trong cung lòng, nơi mà “Kẻ Thù” đã gieo rắc chết chóc.
Đức MARIA là Người Nữ được chúc phúc ba lần, vì đã “Thưa Vâng” cùng Thiên Chúa, nhờ đó, Thiên Chúa - Đấng là Tình Yêu - đã thực hiện lời Ngài đã đoan hứa cùng Abraham, cùng các tổ phụ và tiên tri.
Đức MARIA là Người Nữ được chúc phúc ba lần, vì đã khiêm tốn vô biên, bác ái khôn lường, trinh khiết vẹn tuyền, và là Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ Giáo Hội hoàn vũ, Mẹ các tín hữu Kitô và Mẹ thật của loài người.
Đức MARIA có phúc vì là Người Nữ sinh ra ơn thánh và ơn cứu độ, sinh ra Thiên Chúa Nhân Lành và sinh ra Giáo Hội hoàn vũ.
Đức MARIA có phúc vì là Người Nữ Linh Mục thánh thiện, thánh thiện, thánh thiện, đã cử hành hy lễ đầu tiên và đã góp phần trong việc chuẩn bị Bánh-Thánh (là chính Đức GIÊSU KITÔ) để thánh hiến trên bàn thờ thế giới.

4. Và GIÊSU Con lòng Bà gồm phúc lạ.

Sự kiện Đức MARIA vừa là Mẹ Thiên Chúa vừa vẫn giữ nguyên vẹn đức đồng trinh khiến cho Đức MARIA chỉ đứng sau hàng Thiên Chúa mà thôi.

Thế nhưng tín hữu không nên chỉ chiêm ngắm vinh quang của Đức Mẹ. Trái lại, cần suy tư về những công lao Đức Mẹ đã lập để tiến đến vinh quang tột đỉnh. Đối với Đức GIÊSU KITÔ cũng thế. Tín hữu không thể chỉ chiêm ngắm Đức KITÔ trong vinh quang Phục Sinh mà quên mất việc suy ngắm Ngài trong con đường dài khổ nạn của Đấng Cứu Thế: bị đóng đinh treo trên Thánh Giá và bị mai táng trong mồ. Không thể có buổi sáng Chúa Nhật Phục Sinh nếu trước đó không có ngày u sầu Thứ Sáu Tuần Thánh! Đức MARIA trở nên MỘT với Đức GIÊSU KITÔ trong con đường Khổ-Nạn. Do đó, Đức MARIA còn được gọi là Đấng ĐỒNG-CÔNG CỨU-CHUỘC. Đức MARIA đã chỉ được vinh quang sau khi cùng với Đức GIÊSU KITÔ, NGÔI LỜI THIÊN CHÚA, Con Lòng Mẹ, trải qua con đường Thánh Giá, tột đỉnh của đau thương!

Phúc lành và đau thương cùng quyện lại thắt chặt cung lòng trinh khiết của Đức MARIA, ngay từ giây phút Trinh Nữ MARIA cúi đầu thưa XIN VÂNG và thụ thai bởi phép Đức Chúa THÁNH THẦN. Phúc lành và đau thương từ đó trở nên MỘT không rời nhau nữa, giống như Đức MARIA trở nên MỘT và không bao giờ rời xa THIÊN CHÚA. Có những lúc đau thương trổi vượt trên phúc lành. Và phúc lành chỉ đạt mức độ toàn vẹn trong ngày Đức MARIA lìa bỏ trần gian, Hồn Xác về Trời.

Trái Tim Vẹn Sạch của Trinh Nữ MARIA bị lưỡi đòng của nổi đau đớn đâm thâu qua, ngay từ giây phút Đức GIÊSU, Con Thiên Chúa, nhập thể làm người trong cung lòng Trinh Nữ. Lưỡi đòng lớn mãi, gây nên vết thương lan rộng, theo với giòng thời gian. Giờ qua giờ: khi bửu huyết Thiên Chúa tạo thành với dòng máu con người, khi Thánh Tâm Con Thiên Chúa bắt đầu đập cùng nhịp với Con Tim Hiền Mẫu, khi Xác Thịt vĩnh cửu tạo thành với xác thịt vô nhiễm của Trinh Nữ.. Rồi nổi đau đớn thật sự xuất hiện khi Hài Nhi Con Thiên Chúa - Ánh Sáng Vĩnh Cửu - sinh ra cho thế giới đang ở trong bóng tối sự chết. Lần đầu tiên âu yếm ôm hôn GIÊSU Con Lòng Mẹ, Đức MARIA ý thức trọn vẹn rằng: mỗi ngày qua sẽ tiến đến gần ngày mà cả hai MẸ CON cùng chịu khổ nạn.

Đúng thế. Đức MARIA thật có phúc. Và GIÊSU Con lòng Mẹ cũng thật có phúc. Đáng lý cung lòng trinh khiết của Đức MARIA chỉ hưởng nếm niềm vui tràn trề. Thế nhưng, nó đã bị dằn vặt, đau thắt, xâu xé vì tội lỗi loài người. Vì loài người, cung lòng Đức MARIA bị không biết bao nhiêu lưỡi đòng đâm thâu qua. Lúc cụ già Simeon nói tiên tri; khi phải mang Con Trẻ GIÊSU chạy trốn sang Ai Cập; lúc Đức GIÊSU lạc mất trong đền thờ; khi Đức GIÊSU từ biệt ra đi rao giảng Tin Mừng; những âu lo trải dài suốt 3 năm Đức GIÊSU hoạt động tông đồ; lúc Đức GIÊSU bị bắt, bị giao nộp, bị hành hung, bị sầu não và sau cùng, bị chết trên Thánh Giá.. Trái-Tim Vẹn-Sạch và Cung-Lòng Trinh-Khiết của Đức MARIA đã bị đâm thủng, xé rách cùng lúc với cái chết của Đức GIÊSU, Con-Chiên Vô-Tội, treo trên Thánh Giá.

Loài người không bao giờ suy cho cùng, hiểu cho thấu mọi nổi đau đớn của Trinh Nữ MARIA. Dưới chân Thánh Giá, Người-Nữ Có-Phúc, Đức Mẹ Vô-Nhiễm, Đấng Rất-Thánh, đã đau đớn ôm vào lòng mình trái tim bị đâm thủng, bị giết chết, bị bỏ rơi và chiêm ngắm nơi cung lòng mình một xác chết, thân xác bất động trước đó đã bị hành hung, đẫm máu và bị oán thù. Thân xác này là thân xác của Đức GIÊSU Con lòng Mẹ, là Thịt của thịt Mẹ, là Máu của máu Mẹ, là Sự Sống của sự sống Mẹ, là Tình Yêu của tâm trí Mẹ.

Sở dĩ loài người hồng phúc có được Đấng Cứu Thế là nhờ Trinh Nữ MARIA đã THƯA VÂNG, đã chấp nhận uống chén đắng khổ nạn, 33 năm trước Đức GIÊSU KITÔ. Nổi đau đớn nhất của Đức GIÊSU trên con đường khổ nạn của Ngài, là phải làm cho Đức MARIA - Người Mẹ Vô-Nhiễm Nguyên-Tội của Ngài - phải đau khổ. Bị Thiên Chúa Cha bỏ rơi trên Thánh Giá, chứng kiến nổi đau đớn của Đức Mẹ, lãnh chịu sự phản bội của một tông đồ - đại diện cho muôn vàn kẻ phản bội trong tương lai: đó là ba lưỡi đòng khủng khiếp nhất đâm thâu trái tim tan nát của Đấng Cứu Thế!

Vì tất cả những nổi đau đớn Đức MARIA đã chịu trong vai trò Đồng-Công Cứu-Chuộc, loài người phải bày tỏ lòng tri ân thảo hiếu đối với Đức Mẹ. Chúng ta phải tỏ lòng trìu mến vô bờ của những người con dành cho Người Mẹ Hoàn Hảo nhất trong các người mẹ. Người Mẹ - từ nơi Thiên Quốc - vẫn còn tiếp tục nhỏ những giọt nước mắt đớn đau chua xót trên những đứa con vong ân bội phản, những đứa con hoang đàng, bỏ Nhà Cha ra đi tìm những của hôi tanh nhơ nhớp..

5. QUYỀN LỰC CỦA DANH THÁNH MARIA.

MARIA là tên gọi trìu mến cùng dấu ái nhất của Đức GIÊSU. Danh thánh MARIA là mộc khiên thuẫn đỡ của con người, chống lại những mưu thâm chước độc của quỷ dữ. Danh thánh MARIA là tiếng nhạc ngân vang nơi triều đình thiên quốc làm hân hoan Thiên Chúa Ba Ngôi. Danh thánh MARIA bao bọc vỗ về Đức GIÊSU trong cuộc sống và trong giờ chết của Ngài nơi dương thế.

Vì vậy, khi kẻ thù của con người là ma quỷ, tìm cách quấy phá con người, tín hữu Kitô hãy đọc lời nguyện: “Kính lạy Đức MARIA, Mẹ Đức GIÊSU, con xin phó thác mình con cho Mẹ”, tức khắc ma quỷ sẽ bỏ trốn ngay. Ma quỷ khiếp sợ danh thánh Đức MARIA còn hơn là khiếp sợ danh thánh Đức GIÊSU và THÁNH GIÁ của Ngài. Ma quỷ không thể nào làm hại được Đức MARIA và Đức GIÊSU nên chúng tìm dịp phá hoại các môn đệ trung tín của Chúa bằng đủ trăm phương nghìn cách. Thế nhưng, nguyên tiếng vang danh thánh Đức MARIA đủ làm cho ma quỷ kinh hãi và cút mất. Nếu thế giới biết kêu cầu danh thánh Đức MARIA hẳn sẽ được cứu thoát, không bị hư mất đời đời.

Do đó, các tín hữu Công Giáo hãy sốt sắng kêu cầu cùng lúc hai danh thánh GIÊSU và MARIA để phá vỡ mọi khí giới xảo quyệt của ma quỷ dùng để tấn công giết hại linh hồn. Tự sức mình, các linh hồn không thể nào chống lại được ma quỷ. Nhưng một linh hồn sống trong ơn nghĩa Chúa có thể làm được mọi sự, bởi vì, Thiên Chúa ở cùng linh hồn. Chính Thiên Chúa là sức mạnh của linh hồn.

Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. “Khi nay và trong giờ lâm tử”: là lời kinh tín hữu Công Giáo đọc trong phần thứ hai của kinh Kính Mừng. Lời cầu này ăn khớp với lời cầu trong phần hai của kinh Lạy Cha: Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ.. Hãy luôn cầu xin và chiêm ngắm Đức MARIA. Tín hữu nào hằng chiêm ngắm Mẹ trong cuộc sống thì vào giờ chết sẽ được trông thấy Mẹ cách rõ ràng. Và tín hữu nào chết trong Đức MARIA thì sẽ được trông thấy tức khắc Đức GIÊSU KITÔ, Con Mẹ.

... Vào thời thánh Gioan-MARIA Vianney (1786-1859) làm cha sở họ Ars, có một vụ quỷ ám rất nổi tiếng tại Pháp. Nạn nhân là một giáo dân Công Giáo tên Antoine Gay.

Antoine Gay sinh ngày 31-5-1790, tại Lantenay, nhưng lớn lên dời về sống tại Lyon, miền Trung nước Pháp, và qua đời tại đây ngày 13-6-1871. Trong thời xuân trẻ anh muốn dâng mình cho Chúa, nhưng nhiều ngăn trở khiến mãi đến năm 1836, tức năm 46 tuổi, Antoine mới thực hiện được ước nguyện. Anh vào đan viện Trappist tại Aiguebelle và lãnh nhận áo dòng trợ sĩ. Nhưng anh chỉ ở được 1 năm thì phải xuất dòng, vì bị bệnh thần kinh. Thật ra đây chỉ là những dấu hiệu bị ma quỷ quấy phá.

Điều đáng nói trong cuộc đời của Antoine Gay, là 81 tuổi thọ, nhưng ông đã bị ma quỷ hành hạ đến hơn nửa đời người. Tên quỷ ám hại ông xưng danh là Isacaron, tướng của các tên quỷ nhơ nhớp. Rất nhiều lần, Isacaron bị bắt buộc phải ca tụng quyền năng của Thiên Chúa, của Đức Mẹ, của các thánh và khuyên bảo điều lành, qua miệng ông Antoine Gay, người bị tên quỷ ám hại.

Sau nhiều năm khám nghiệm và chữa trị, người ta cầm chắc bằng chứng: Antoine Gay bị quỷ ám. Năm 1853, Antoine được dẫn đến Ars để xin thánh Gioan-MARIA Vianney trừ quỷ. Vào Chúa Nhật mùng 4 tháng 12, thánh Vianney cử hành thánh lễ trọng thể kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, mặc dù lúc đó tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội chưa được tuyên bố. (Tín điều này chỉ được Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố vào năm sau, 8-12-1854).

Vậy mà một biến cố thật lạ lùng đã xảy ra tại nhà thờ xứ đạo Ars. Sau thánh lễ, Antoine Gay - người bị quỷ ám - đến quỳ trước tượng Đức Mẹ, hai tay giang thành hình Thánh Giá, đôi mắt đẫm lệ và qua môi miệng ông, ma quỷ đã bị bắt buộc long trọng tung hô Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội như sau:

“Lạy Đức MARIA! Hỡi Đức MARIA! Bà là kỳ công tuyệt diệu của bàn tay Thiên Chúa! Bà là thành quả trọng đại của điều Chúa làm nên. “Hỡi Thụ Tạo vô song, Bà làm cho toàn thể triều thần thiên quốc phải ngưỡng mộ, tán dương và tuân phục như là Mẹ Đấng Tạo Thành. Bà được nâng cao lên trên hàng Thiên Thần và toàn thể Triều Đình thiên quốc. Bà ngự bên Thiên Chúa. Bà là đền thờ Thiên Chúa. Bà cưu mang trong dạ tất cả những gì là hùng dũng nhất, vĩ đại nhất, uy quyền nhất và đáng mến nhất!
“Hỡi Đức MARIA, Bà tiếp nhận nơi cung lòng trinh khiết của Bà, Đấng đã dựng nên Bà. Bà vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ. Thật không gì có thể sánh ví được với Bà. Sau Thiên Chúa, Bà là tất cả những gì trọng đại nhất. Bà là người Phụ Nữ Can Cường. Một mình Bà, Bà có thể chúc tụng Thiên Chúa, trổi hơn tất cả Triều Thần thiên quốc hợp lại..
“Nơi Bà, không hề có mảy may bợn nhơ. Tất cả những ai dám nói rằng Bà không thể vừa là Trinh Nữ vừa làm Mẹ, đều là những người nói lộng ngôn! Bà được thụ thai mà không hề dính vết tội nguyên tổ. Bà thật là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội!..
“Tôi xin chúc tụng Bà, hỡi Đức MARIA! Nhưng hết mọi lời tôi chúc tụng Bà đều được dâng lên Thiên Chúa, bởi vì, chính Ngài là Chủ Tể của mọi sự lành!.. Ngoài Trái Tim Con Chí Thánh của Bà ra, không hề có một trái tim nào khác, có thể sánh ví với Trái Tim của Bà! Ôi Trái Tim tốt lành! Ôi Trái Tim trìu mến! Bà không bỏ rơi ai, ngay cả những kẻ vô ơn tệ bạc và cả những người mắc tội trọng! Trái Tim Bà đầy dịu hiền, ngay cả đối với những người khốn khổ, chỉ đáng bị trừng phạt, vậy mà Bà cũng xin được cho họ ơn thánh và lòng từ bi thương xót! Có biết bao kẻ tội lỗi đê hèn được nhờ Bà mà ăn năn trở lại cùng Thiên Chúa!” “Ôi phải chi mọi con dân trên hoàn cầu nhận biết Bà. Nếu họ biết đánh giá đúng mức lòng trìu mến, quyền lực và lòng nhân hậu của Bà, thì không một ai trong họ bị hư mất! Tất cả những ai biết chạy đến kêu cầu Bà với trọn lòng tín thác và liên lĩ cầu xin Bà, thì dù họ ở trong tình trạng nào đi nữa, Bà cũng sẽ cứu giúp họ và Bà sẽ muôn đời chúc lành cho họ...Tôi bị bắt buộc hạ mình quỳ dưới chân Bà và xin Bà tha thứ về tất cả những sỉ nhục mà tôi làm cho người bị ám hại phải chịu!” “Tôi xin thú nhận rằng, hôm nay - lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội - là một trong những ngày lễ trọng đại nhất của Bà trong năm, mà Con Chí Thánh của Bà bắt buộc tôi phải nói rằng: đây là ngày Lễ Trọng nhất trong tất cả những ngày lễ của Bà!”.. .. Một ngày, có người hỏi Isacaron - tướng của các tên quỷ nhơ nhớp - những phương thế nào giúp nên trọn lành, hắn liền nói: “Phải hết sức gớm ghét tội trọng; đừng chủ ý phạm tội nhẹ; luôn sống dưới cái nhìn của Thiên Chúa; biết hạ mình khiêm tốn mọi ngày trong đời sống, bởi vì kiêu ngạo là tính xấu tệ hại nhất trong tất cả các tính xấu; luôn nêu gương sáng và khuyên bảo những lời tốt lành; hãm mình làm việc đền tội như vị thánh Tiền Hô đòi hỏi. Và ai thánh thiện rồi thì càng phải trở nên thánh thiện hơn nữa!”.

Sau lời khuyên nhủ trên đây, Isacaron bị bắt buộc đọc to cho mọi người nghe, lời cầu nguyện dâng lên Trinh Nữ MARIA, qua miệng của Antoine Gay, người bị hắn ta ám hại:

“Lạy Đức MARIA Chí Thánh, con xin dâng lên Mẹ lời cầu, với trọn lòng tín cẩn. Mẹ chẳng từ bỏ ai, nhưng hằng tha thiết đến phần rỗi của mọi người. Thiên Chúa không hề từ chối điều gì với Mẹ khi Mẹ cầu xin cùng Ngài. Xin Mẹ hãy ôm con vào vòng tay che chở vạn năng của Mẹ. Nếu Mẹ dủ lòng thương xót nhậm lời con khiêm tốn cầu xin, thì toàn thể hỏa ngục cũng không thể nào làm hại được con. Một cách nào đó, Mẹ là Bà Chủ của vận mệnh con. Vận mệnh con nằm trong đôi bàn tay Mẹ! Nếu Mẹ bỏ rơi con, thì con sẽ bị hư mất, không nguồn cứu giúp! Thế nhưng, Mẹ là Người Mẹ quá tốt lành, không thể bỏ rơi những ai đặt niềm hy vọng nơi Mẹ! Xin Mẹ cầu bầu cùng Thiên Chúa Ba Ngôi cho con và con tin chắc là mình sẽ được cứu rỗi! Ôi ước gì con có quyền làm cho mọi con dân trên mặt đất này nhận biết Mẹ! Ước gì con có thể loan báo khắp nơi sự cao cả, lòng nhân hậu và quyền năng của Mẹ! Điều mà con không thể làm được, con nguyện ước cho các thần trí thiên quốc làm thay. Và ước chi chính các tên quỷ bị bó buộc phải xưng tụng rằng: Mẹ là kỳ công của Bàn Tay Thiên Chúa, Mẹ có quyền lực Thiên Chúa trong tay, Mẹ thật khủng khiếp đối với ma quỷ và mọi sự đều phục tùng Mẹ! Mẹ là loài thụ tạo vô song! Mẹ là phụ nữ duy nhất, vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ. Mẹ đã sinh ra Đấng Cứu Thế. Cùng với Thánh Cả GIUSE, Mẹ có chỗ đứng riêng. Như thế, Mẹ cao trọng hơn mọi Thiên Thần và các thánh: Mẹ thật là Chí Thánh, là thần thiêng! Con hy vọng nơi Mẹ và con tin chắc chắn vững vàng rằng, kể cả mọi quyền lực hỏa ngục, cũng không thể nào chiến thắng được con! Ước gì được như vậy. Tất cả các Thiên Thần và các thánh đồng thanh chúc tụng Mẹ đến muôn đời! Amen. Ước gì được như vậy!”.


V. TÔI TIN GIÁO HỘI DUY NHẤT, THÁNH THIỆN, CÔNG GIÁO VÀ TÔNG TRUYỀN.


1. TÔI TIN GIÁO HỘI DUY NHẤT.

... Trong số các Kitô-hữu bị bắt tại Antiochia vào thời kỳ Kitô Giáo bị bách hại ở đây, có một cậu bé 7 tuổi tên Barula. Khi quan tòa hỏi:
- Tại sao bé tin các chân lý đức tin?, Barula anh dũng trả lời:
- Bởi vì mẹ cháu dạy cháu các chân lý đức tin này.
- Ai dạy mẹ cháu?
- Thưa, Giáo Hội.
- Ai dạy Giáo Hội?
- Thưa, chính Đức GIÊSU KITÔ, Đấng Sáng Lập Giáo Hội!

Trong bất cứ tổ chức nào, đoàn thể nào, để được linh hoạt và an hòa, cần phải có phẩm trật, tức là, có vị chỉ huy, có người truyền lệnh và có kẻ tuân phục thi hành. Nơi các triều đại vua chúa cũng thế. Trong các tôn giáo cũng vậy. Phải luôn luôn có vị cầm đầu, có các tổng trưởng (bộ trưởng), những người dưới quyền tổng trưởng và sau cùng là các tín hữu. Một vị giáo hoàng không thể hành động đơn phương. Một vị vua cũng không thể hành động một mình.

Đức GIÊSU KITÔ thành lập tôn giáo mang tên KITÔ GIÁO và những người gia nhập Kitô Giáo mang danh hiệu Kitô-hữu. Kitô Giáo là tôn giáo Duy-Nhất, Chân-Thật, Hoàn-Hảo, Bất-Biến trong giáo lý do chính Đức GIÊSU KITÔ, Vị Thầy Chí Thánh, rao giảng. Giáo lý của Đức GIÊSU KITÔ được Đức Chúa Thánh Thần liên lục hướng dẫn soi sáng cho các vị Giáo Hoàng và các Giám Mục - những người trợ giúp Đức Giáo Hoàng - điều khiển các Giáo Hội địa phương rải rác trên toàn thế giới. Tất cả các Giáo Hội địa phương liên kết với nhau trong tình huynh đệ và cùng suy phục một vị Thủ lãnh Giáo Hội là Đức Giáo Hoàng.

Từ Kitô Giáo Duy-Nhất, Chân-Thật, Hoàn-Hảo và Bất-Biến phát sinh Giáo-Hội Duy-Nhất, Thánh-Thiện, Công-Giáo và Tông-Truyền. Chỉ có một Giáo Hội Duy Nhất, dưới quyền điều khiển của một vị Giáo Hoàng. Khởi đầu là thánh Phêrô tông đồ rồi đến các vị Giáo Hoàng kế nghiệp thánh Phêrô.

“Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà THÁNH THẦN đem lại, bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau. Chỉ có một THÂN-THỂ, một THÁNH-THẦN, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm HY-VỌNG. Chỉ có một CHÚA, một NIỀM-TIN, một PHÉP-RỬA. Chỉ có một THIÊN-CHÚA, CHA của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người” (Êphêsô 4,4-6).

... Daniel O'Connel, một người nổi tiếng về việc tranh đấu cho quyền lợi của dân nước Ái-nhĩ-lan. Một hôm, nơi quốc hội Anh quốc, ông bị chế nhạo là ”kẻ theo Giáo-Hoàng”! Không chút do dự, ông Daniel O'Connel đứng thẳng lên và trịnh trọng nói: Quý vị tặng tôi danh hiệu “kẻ theo Giáo-Hoàng” với chủ ý nhục mạ tôi. Nhưng thực ra quý vị đã vô tình khen tặng tôi với danh hiệu đó! Bởi lẽ, “kẻ theo Giáo-Hoàng” có nghĩa là niềm tin của tôi - qua trung gian các vị Giáo-Hoàng liên tục nối tiếp nhau cai quản Giáo Hội - có nguồn gốc nơi chính Đức GIÊSU KITÔ. Trong khi niềm tin của quý vị dựa trên Martin Luther (1483-1546), Jean Calvin (1509-1564) và Henri VIII (1491-1547).. Thêm vào đó, danh hiệu “kẻ theo Giáo-Hoàng” còn có nghĩa là tôi thuộc về Giáo Hội được Đức GIÊSU KITÔ xây dựng trên tảng đá: “Thầy bảo cho con biết: con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực các cửa âm phủ sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời: dưới đất, con cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, con tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,18-19). Nếu quý vị suy nghĩ cho kỹ, hẳn quý vị sẽ thấy rằng: trong phạm vi đức tin, theo Đức-Giáo-Hoàng vẫn hơn là theo một ông vua hoặc một nữ hoàng, theo Thánh-Giá vẫn hơn là theo vương-miện, bởi vì, chỉ với Phêrô - vị Giáo Hoàng tiên khởi - mà Chúa GIÊSU KITÔ phán: “Hãy chăn dắt đoàn chiên của Thầy” (Gioan 21,17). Vì thế, tôi lấy làm vinh dự được thuộc về đoàn chiên do Đức Giáo Hoàng chăn dắt!

... Khi còn sống, Martin Luther thường xấc láo xúc phạm và tự xưng mình sẽ là phu đào huyệt mai táng Đức Giáo Hoàng. Khi ông chết thì Giáo Hoàng cũng phải tuyệt mạng! Luther thường lập đi lập lại lời nguyền rủa quái ác: “Hỡi Giáo Hoàng, lúc sống tôi là tên ám hại ngài, khi chết, tôi sẽ là kẻ thủ tiêu ngài!”.

Vào thời kỳ đức cha Fallize làm Khâm Sứ Tòa Thánh tại Na-Uy, một tín hữu thuộc giáo hội tin lành cải cách đến gặp ngài và nói:
- Thưa Đức Khâm Sứ, ở Roma, có còn Đức Giáo Hoàng làm chủ chăn Giáo Hội Công Giáo không?
- Có chứ sao không! Giáo Hội Công Giáo Roma không bao giờ thiếu bóng Đức Giáo Hoàng mà!
- Nếu quả đúng như lời ngài quả quyết, xin ngài hãy ghi tên con vào danh sách các tín hữu Công Giáo. Bởi vì, Martin Luther, ông tổ của giáo hội tin lành cải cách, đã từng tuyên bố khi nào ông ta chết, Đức Giáo Hoàng cũng chết theo. Vậy mà, Luther đã chết hơn 4 thế kỷ qua, nhưng Đức Giáo Hoàng vẫn còn sống. Như thế, Luther là một ông tổ nói dối, lừa đảo tín đồ. Và Thiên Chúa không bao giờ chọn một người nói dối để thành lập hoặc cải cách một Giáo Hội cả! Vì thế, con xin trở về với Giáo Hội Công Giáo Roma, Giáo Hội mà đáng lý ông Martin Luther không được phép phản bội cũng không nên xa lìa! Con xin trở về với Giáo Hội Công Giáo có Đức Giáo Hoàng làm chủ chăn ..

“Thầy là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên.. Thầy biết chiên của Thầy và chiên của Thầy biết Thầy, như Chúa Cha biết Thầy và Thầy biết Chúa Cha. Thầy còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Thầy cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Thầy. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một Mục Tử” (Gioan 10,11-16).

2. TÔI TIN GIÁO HỘI THÁNH THIỆN.

Giáo Hội Thánh Thiện, bởi vì, Đấng Sáng Lập Giáo Hội - Đức GIÊSU KITÔ - là Đấng Chí Thánh. Và Đấng Nuôi Dưỡng Giáo Hội - Đức Chúa THÁNH THẦN - cũng là Đấng Chí Thánh. Giáo lý của Kitô Giáo thánh thiện và các Bí Tích của Kitô Giáo cũng thánh thiện, bởi vì, do chính Đức GIÊSU KITÔ rao giảng và thiết lập. Sau cùng, các thành phần của Kitô Giáo - các Kitô hữu - tất cả đều được mời gọi sống thánh thiện: “Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng Hoàn-Thiện” (Mt 5,48).

“Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng Hoàn-Thiện”. Đó là huấn lệnh của Đấng sáng lập Kitô Giáo. Trước khi đưa ra huấn lệnh này, chính Đức GIÊSU KITÔ đã thi hành: “Hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm tốn” (Mt 11,29). Tất cả các nhân đức nơi Đức GIÊSU KITÔ đều đạt mức độ hoàn thiện: khiêm tốn, tuân phục, trong sạch, hiền lành, khó nghèo, nhân hậu, từ bi, công chính, bác ái v.v.

Một nhân đức đạt mức độ hoàn thiện là nhân đức đạt mức độ anh hùng. Và người thực hành nhân đức này là một vị thánh. Vị thánh trước tiên là người hoàn toàn vâng phục lề luật, luật nhỏ cũng như luật lớn. Và tuân phục đến mức độ anh hùng. Sự thánh thiện bao gồm các nhân đức đạt chóp đỉnh mà một thụ tạo có thể thi hành được. Đây là các nhân đức được yêu chuộng cách anh hùng và thực thi với tinh thần hoàn toàn từ bỏ, không mảy may dính bén với những gì là ham chuộng lợi lộc và danh dự thế trần. Có thể nói rằng, vị thánh là người chỉ yêu mến một mình Thiên Chúa và bỏ rơi tất cả những gì không thuộc về Thiên Chúa. Và vì đôi mắt chỉ gắn chặt vào Thiên Chúa, vị thánh sẽ nhìn thấy anh chị em mình đang giơ tay khẩn thiết kêu cầu cùng Thiên Chúa. Với đôi mắt vẫn gắn chặt vào Thiên Chúa, vị thánh sẽ cúi xuống với người anh chị em đang đau khổ và dấn thân trợ giúp anh chị em mình. Từ bỏ xác thịt, từ bỏ của cải, từ bỏ tiện nghi, vị thánh chỉ sống vì lý tưởng phục vụ. Vị thánh là người nghèo về tiền của, danh vọng nhưng lại giàu có về mặt khôn ngoan và nhân đức. Vị thánh là người chiếm hữu tất cả, bởi vì, vị thánh tự nuôi dưỡng bằng niềm vui thiên quốc. Chính Thiên Chúa là lương thực cho vị thánh. Nơi Thiên Chúa, vị thánh tìm thấy niềm hoan lạc của mình. Vị thánh là thụ tạo hiểu được ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

Mọi Kitô hữu - không trừ ai - đều được mời gọi nên thánh. Đây là huấn lệnh quan trọng. Các Kitô hữu càng sống thánh thiện càng đẹp lòng Chúa GIÊSU KITÔ và càng kéo ơn lành Chúa THÁNH THẦN xuống trên Giáo Hội. Và một khi sống thánh thiện, Kitô-hữu có thể làm được những việc kỳ diệu. Phép lạ là dấu chứng rõ rệt của một cuộc sống tràn đầy niềm tin và sự công chính. Thế giới thiếu vắng phép lạ là thế giới thiếu vắng những người thánh thiện, công chính và có lòng tin vững vàng. “Các con hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật các con: nếu có ai nói với núi này: 'Dời chỗ đi, nhào xuống biển!' mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì điều ấy sẽ được ban cho. Vì thế, Thầy nói với các con: tất cả những gì các con cầu nguyện và van xin, các con cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý” (Mc 11,22-24). “Các con hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong cùi được sạch bệnh và khử trừ ma quỷ” (Mt 10,8). “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao” (Mc 16,17-18). “Đây, Thầy đã ban cho các con quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được các con” (Lc 10,19).

“Chính Đức GIÊSU KITÔ yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. Như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Êphêsô 5,25-27).

Thiên Chúa ở cùng tất cả những ai yêu mến Ngài. Đây là dấu chứng một Kitô-hữu kết hiệp mật thiết với Đức GIÊSU KITÔ: Kitô-hữu đó làm được những việc lạ lùng nhân danh Đức GIÊSU KITÔ và để làm vinh danh Thiên Chúa. Với một thế giới vắng bóng phép lạ, người ta có thể nói với thế giới đó rằng: “Ngươi đã đánh mất lòng tin và sự công chính, nên ngươi là một thế giới không có các vị thánh!”.

Mọi tín hữu trong Giáo Hội phải nên thánh, bắt đầu từ Đức Giáo Hoàng đến các Giám Mục, linh mục và giáo dân. Ai ai cũng phải nên thánh trong đấng bậc mình. Tuy nhiên, các vị mang chức thánh có nhiệm vụ gấp đôi phải nên thánh. Bởi lẽ, các vị chủ chăn có ảnh hưởng quan trọng trên đoàn chiên. Một chủ chăn thánh thiện làm được không biết bao điều lành cho đoàn chiên. Trái lại, một chủ chăn bất xứng gieo muôn ngàn tang tóc cho đoàn chiên.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ quyết liệt. Thời kỳ mà ma quỷ dùng chính bề tôi của chúng để tấn công các môn đệ, những Kitô-hữu trung tín của Đức GIÊSU KITÔ. Đây là thời kỳ các tên “phản-Kitô” đang lộng hành qua các giáo phái, các phương tiện truyền thông, dưới muôn hình vạn trạng ..

Vô phúc cho đoàn chiên không được vị mục tử thánh thiện hướng dẫn!!! Để có thể đương đầu với Satan và bè lũ của chúng, cần phải có những vị chủ chăn thánh thiện, thánh thiện, thánh thiện. Những vị chủ chăn thánh thiện dám sống chết vì đoàn chiên. Một vị chủ chăn thánh thiện là Thiên Thần Bản Mệnh canh giữ đoàn chiên. Hơn thế nữa, một chủ chăn thánh thiện là một “Đức KITÔ khác”. Chính ngài củng cố đức tin cho đoàn chiên và khuyến khích ủi an đoàn chiên kiên trì trong thử thách, đợi chờ ngày Đức GIÊSU KITÔ vinh hiển tái lâm. Chúa GIÊSU nói với Simon-Phêrô: “Simon, Simon ơi, kìa Satan đã xin được sàng các con như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho con để con khỏi đánh mất lòng tin. Phần con, một khi đã ăn năn trở lại, hãy củng cố lòng tin của các anh em con nên vững mạnh” (Lc 22,31-32). Với câu nói này, Chúa GIÊSU muốn cảnh giác thánh Phêrô đề phòng sự yếu đuối dễ sa ngã của ông. Ông mạnh miệng, nhưng ông sẽ hèn nhát chối bỏ Thầy, khi giờ thử thách đến. Đồng thời, Chúa GIÊSU tiên báo Phêrô sẽ ăn năn thống hối. Với kinh nghiệm yếu đuối của mình, từ đó, thánh Phêrô sẽ vững bước tiến trên con đường lòng tin. Ông Simon-Phêrô nói với Đức GIÊSU: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?”. Đức GIÊSU trả lời: “Nơi Thầy đi, bây giờ con không thể theo đến được, nhưng sau này con sẽ đi theo”. Ông Phêrô thưa: “Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được? Con sẽ thí mạng con vì Thầy!”. Đức GIÊSU đáp: “Con sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thật, Thầy bảo thật cho con biết: gà chưa gáy, con đã chối Thầy ba lần!” (Gioan 13,36-38).

Các Kitô-hữu ghi khắc nghi vấn của Đức GIÊSU KITÔ: “Khi Con-Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8). Ước gì mỗi Kitô-hữu biết gìn giữ và củng cố niềm tin để đón chờ ngày Chúa GIÊSU KITÔ vinh hiển tái lâm.

3. TÔI TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO.

Danh từ “Công Giáo” thường được hiểu là “Giáo Hội Gốc” do chính Đức GIÊSU KITÔ sáng lập, và để phân biệt với các “Giáo Hội phân ly” như Tin lành, Anh giáo, Chính Thống v.v. Nhưng trước hết, “Công Giáo” có nghĩa là “Hoàn Vũ”. Chúa GIÊSU lập nên “Giáo Hội” là để cho hết mọi người, thuộc mọi dân tộc, ở khắp mọi nơi, trên toàn thế giới: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy các con hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh CHÚA CHA, CHÚA CON và CHÚA THÁNH THẦN, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20). “Các con sẽ nhận được sức mạnh của THÁNH THẦN khi Người ngự xuống trên các con. Bấy giờ các con sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng bờ cõi trái đất” (Công Vụ Tông Đồ 1,8).

“Đẹp thay chân người rao tin trên núi, người rao tin thái bình, người rao tin mừng, người rao tin cứu độ, nói với Sion rằng: Thiên Chúa ngươi sẽ thống trị! Tiếng của người canh gác ngươi đã cất lên. Họ sẽ cùng nhau ca ngợi rằng: Chính mắt họ sẽ nhìn xem, khi Chúa đem Sion trở về. Hỡi Giêrusalem hoang tàn, hãy vui mừng, hãy cùng nhau ca ngợi, vì Chúa đã an ủi dân Người, đã cứu chuộc Giêrusalem. Chúa đã chuẩn bị ra tay thánh thiện Người trước mặt chư dân; và khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta” (Isaia 52,7-10).

Đức GIÊSU KITÔ, Con Thiên Chúa, đã nhập thể làm người trong cung lòng Trinh Nữ Rất Thánh MARIA. Ngài sinh ra tại Bétlêhem nhưng chọn ngôi làng nhỏ bé Nagiarét, xứ Galilêa, để sống thời kỳ ẩn dật trước khi công khai truyền đạo. Do đó tên làng “Nagiarét” gắn liền với tên gọi của Ngài: Đức GIÊSU thành NAGIARÉT, cho đến bản án treo trên Thánh Giá: GIÊSU NAGIARÉT VUA DÂN DO THÁI.

Đức GIÊSU truyền đạo trước tiên trên toàn lãnh thổ Palestina gồm có: Galilêa, Giuđêa và Samaria. Ngài lập vương quốc đầu tiên tại Giêrusalem (thuộc xứ Giuđêa), nôi sinh của đạo Do Thái thời Cựu Ước. Từ đó Giêrusalem trở thành nôi sinh của Kitô Giáo thời Tân Ước. Giêrusalem là điểm khởi đầu của Kitô Giáo. Từ Giêrusalem, Kitô Giáo được các Tông Đồ mang đi truyền ra khắp năm châu, bốn biển và dừng lại tại Roma. ROMA trở thành trụ sở của Giáo Hội Công Giáo, bởi vì, vị Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo Hội Công Giáo là thánh Phêrô đã truyền đạo và tử đạo tại đây. Cùng với thánh Phêrô, còn có thánh Phaolo, vị Tông Đồ của dân ngoại, cũng truyền đạo và tử đạo tại Roma.

Sự kiện Giáo Hội Công Giáo không đặt trụ sở tại Giêrusalem nhưng chọn ROMA làm thủ đô, nói lên tính chất đại-đồng, hoàn-vũ của KITÔ-GIÁO. Đức GIÊSU KITÔ là Đấng CỨU-THẾ của toàn thể nhân loại. Xét theo lý lẽ loài người, nếu Đức GIÊSU xuống thế làm người chỉ để cứu chuộc một dân tộc Do Thái mà thôi, thì kể là quá ít, chẳng bõ công! Chẳng lẽ một mình dân tộc Do Thái mà lại đòi hỏi một công trình cứu chuộc to tát đến thế sao? Không! Ngàn lần không! Không hợp lý và hết sức bất công! Do đó, chúng ta hiểu rằng: Nền Công Lý Thiên Chúa đòi hỏi: Đấng Vô Biên sẽ hạ mình cứu chuộc toàn thể dòng dõi nhân loại hằng hà sa số!.. “Kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước CON CHIÊN, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô: Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính CON CHIÊN đã cứu độ chúng ta. Tất cả các Thiên Thần đều đứng chung quanh ngai, chung quanh các Kỳ Mục và bốn Con Vật. Họ đều sấp mặt xuống, phủ phục trước ngai và thờ lạy Thiên Chúa mà tung hô rằng: Amen! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thưở, muôn đời! Amen!” (Khải Huyền 7,9-11).

... Bà Edgar Olson là một tín hữu Công Giáo sống tại bang Michigan, Hoa Kỳ. Bà có hai con trai lập gia đình với hai phụ nữ không Công Giáo. Người con dâu đầu tên Velma, có 2 con. Con dâu thứ tên Betty, có 5 con.

Một hôm đi dự lễ Chúa Nhật, bà Edgar nghe cha sở nói: “Một khóa học trình bày về giáo lý Công Giáo sẽ diễn ra vào lúc 8 giờ tối thứ hai và thứ ba hàng tuần. Trong vòng một năm, giáo xứ chúng ta đã tiếp nhận được 96 tân tòng. Nhưng rồi con số này cứ dậm chân tại chỗ, không bao giờ đạt đến 100. Vậy chúng tôi mời gọi anh chị em tích cực góp phần nâng cao số người xin theo đạo Công Giáo, bằng cách mời một người bạn, một người quen, hoặc một người láng giềng không Công Giáo đến tham dự khóa học này”.

Nghe vậy, bà Edgar Olson liền nghĩ đến hai con dâu thân yêu của bà. Bà tự nhủ: “Đây là dịp tốt để hai người tìm hiểu thế nào là đức tin Công Giáo. Rồi biết đâu nhờ ơn Chúa ban, chúng nó sẽ xin theo đạo. Được như vậy còn gì quý bằng: gia đình chúng nó sẽ được hiệp nhất trong cùng một đức tin và chúng nó sẽ tận tâm giáo dục con cái trở thành những tín hữu Công Giáo đạo đức sốt sắng!”.

Nghĩ vậy nên bà Edgar bắt tay ngay vào việc. Bà gọi điện thoại cho Velma, người con dâu đầu. Bà nói: “Nếu tham dự khóa học này con sẽ có dịp am tường về đạo Công Giáo. Và rồi con sẽ thấy rằng: đạo Công Giáo không những giúp con sống phong phú ngay tại đời này mà còn giúp con đạt hạnh phúc vĩnh cửu đời sau nữa. Đàng nào cũng có lợi hết. Con thử đi!” Velma chân thật trả lời: “Mẹ nói nghe sao hấp dẫn quá! Thật ra từ lâu con đã ước ao hiệp thông với chồng con trong cùng một NIỀM TIN và KINH NGUYỆN. Con cũng muốn tránh cho hai đứa con của con khỏi thắc mắc khi thấy Ba chúng nó lần hạt Mân Côi còn mẹ chúng nó thì không!”

Thành công với con dâu đầu rồi, bà Edgar phấn khởi quay sang thuyết phục con dâu thứ hai. Betty có 5 đứa con. Từ lâu, Betty cũng ý thức rằng: “Gia đình sẽ vững mạnh và hiệp nhất hơn, nếu tất cả mọi phần tử có cùng một Niềm Tin tôn giáo”. Vì thế, khi vừa nghe mẹ chồng nói, Betty reo lên: “Quả là mẹ mang đến cho con một tin vui! Thật là điều tốt đẹp khi thấy tín hữu Công Giáo biết chú ý đến người khác. Lây nay con vẫn có thành kiến là người Công Giáo chỉ sống đạo thu hẹp trong nội bộ Giáo Hội của họ mà thôi. Nếu chồng con bằng lòng giữ mấy đứa nhỏ cho con, con sẽ đi với mẹ và chị Velma đến tham dự khóa học này”.

Velma và Betty đã cùng với mẹ chồng tham dự khóa học về giáo lý Công Giáo tại giáo xứ. Sau thời gian học hỏi, cả hai đã xin lãnh nhận bí tích Rửa Tội cùng với 25 tân tòng khác. Thật là niềm vui lớn lao cho cả hai gia đình, đặc biệt là cho “bà mẹ chồng tốt lành” Edgar Olson ...

4. TÔI TIN GIÁO HỘI TÔNG TRUYỀN.

“Đức GIÊSU lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ. Người lập Nhóm Mười Hai và đặt tên cho ông Simon là Phêrô, rồi có ông Giacôbê con ông Dêbêđê và ông Gioan em ông Giacôbê, rồi đến các ông Anrê, Philipphê, Batôlômêô, Matthêu, Tôma, Giacôbê con ông Anphê, Tađêô, Simon thuộc nhóm quá khích và Giuđa Ítcariốt chính là kẻ nộp Người” (Mc 3,13-19).

Phaolô nói với các kỳ mục trong Hội Thánh ở Êphêsô: “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà THÁNH THẦN đã đặt anh em làm người coi sóc. Hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh mà Đức GIÊSU KITÔ đã mua bằng Máu của chính mình.. Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng. Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng, suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm khi phải rơi lệ” (CVTĐ 20,28-31).

Hai đoạn Kinh Thánh trích dẫn trên đây cho thấy Giáo Hội do chính Đức GIÊSU KITÔ thiết lập và trao cho nhóm Mười Hai Tông Đồ. Từ nhóm Mười Hai, Giáo Hội được tiếp nối và Tin Mừng được tiếp tục rao giảng trên toàn thế giới. “Các con sẽ nhận được sức mạnh của THÁNH THẦN khi Người ngự xuống trên các con. Bấy giờ các con sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (CVTĐ 1,7-8). Thánh Gioan Tông Đồ viết trong thư thứ nhất của ngài: “Điều vẫn có ngay từ lúc đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời Sự Sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức GIÊSU Kitô, Con của Người. Những điều này chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1Gioan 1,1-4).

... Tại Bretton, một thành phố nhỏ ở miền Nam nước Đức, một cụ bà lâm trọng bệnh. Bà là thân mẫu của Melantone, đồ đệ tiên khởi của Martin Luther. Ông Melantone đến viếng thăm an ủi mẹ. Linh cảm giờ sau cùng đã điểm, cụ bà ngước đôi mắt vừa hốt hoảng vừa âu lo nhìn đăm đăm đứa con trai. Cụ nắm chặt tay ông Melantone và hỏi bằng một giọng van lơn: “Con à, xin con làm ơn nói cho mẹ biết, nói cho mẹ rõ, để được chết lành và được cứu rỗi, mẹ phải ra đi với niềm tin của Giáo Hội nào? tin lành hay Công Giáo?”. Sau một giây im lặng, ông Melantone buồn bã đáp: “Thưa mẹ, giáo lý của giáo hội tin lành thì dễ dàng tin theo để sống, nhưng, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo mới là giáo lý vững vàng nhất để được ơn chết lành và được cứu rỗi!”

5. ĐỨC GIÊSU KITÔ TRAO PHÓ GIÁO HỘI CHO TRINH NỮ RẤT THÁNH MARIA.

Trước khi kết thúc bài suy tư về lời tuyên xưng: “TÔI TIN GIÁO HỘI DUY NHẤT, THÁNH THIỆN, CÔNG GIÁO VÀ TÔNG TRUYỀN, tâm hồn các Kitô-hữu không thể không hướng về Trinh Nữ Rất Thánh MARIA, Mẹ của Đức GIÊSU KITÔ, Mẹ của GIÁO HỘI và Mẹ của toàn thể nhân loại.

Đứng gần Thánh Giá Đức GIÊSU, có Thân Mẫu Người.. Khi thấy Thân Mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức GIÊSU nói với Thân Mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: ”Đây là Mẹ của con”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước Bà về nhà mình (Gioan 19,25-27).

Trong giờ phút đau thương nhất, khi sứ mệnh cứu chuộc đi vào giai đoạn hoàn tất, Đức GIÊSU trao phó toàn thể nhân loại - mà tông đồ Gioan là đại diện - trong tay Mẹ mình là Trinh Nữ Rất Thánh MARIA. Như thế, chúng ta có đủ lý do để suy luận rằng, chắc chắn trước đó, khi còn sống bên Mẹ, trong những giờ phút thân mật nhất giữa hai Mẹ Con, Đức GIÊSU đã trao phó Giáo Hội Ngài cho Mẹ MARIA. Sách “Công Vụ Tông Đồ” ngay nơi chương đầu, khi trình bày “Hội Thánh tại Giêrusalem” đã viết: “Bấy giờ các ông từ núi gọi là núi Ôliu trở về Giêrusalem.. Vào tới trong thành, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Các ông ấy là: Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê, Philipphê, Tôma, Batôlômêô, Matthêu, Giacôbê con ông Anphê, Simon thuộc nhóm Quá-Khích và Giuđa con ông Giacôbê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với Bà MARIA Thân Mẫu Đức GIÊSU và với anh em của Đức GIÊSU” (CVTĐ 12-14).

Sự hiện diện của Đức MARIA dưới chân Thánh Giá và sự hiện diện của Đức MARIA trong thời gian đầu khai nguyên Hội Thánh tại Giêrusalem, đủ minh chứng sự hiện diện của Đức MARIA suốt dòng lịch sử GIÁO HỘI cho đến ngày GIÁO HỘI chấm dứt nơi trần gian. Nguyện xin Trinh Nữ Rất Thánh MARIA đồng hành với Giáo Hội, bênh vực và che chở Giáo Hội.

Trưa Chúa Nhật 24-4-1994, trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 đã nhắc lại Lời Kinh cầu cùng Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, do Đức Lêô 13 phổ biến trong toàn Giáo Hội Công Giáo hồi cuối thế kỷ 19. Đức Thánh Cha nói: “Mặc dù ngày nay, Kinh này không còn được đọc vào cuối mỗi thánh lễ nữa, nhưng tôi mời gọi tất cả anh chị em đừng quên kinh này, nhưng hãy đọc kinh để được ơn phù trợ trong cuộc chiến đấu chống lại những lực lượng của tối tăm và chống lại thần dữ của thế gian này”.

Đức Thánh Cha Lêô 13 (1878-1903) muốn rằng, sau thánh lễ, vị linh mục quỳ dưới chân bàn thờ, đọc 3 kinh Kính Mừng, một kinh Lạy Nữ Vương, rồi đọc câu: “Lạy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin cầu cho chúng con, đáng chịu lấy những sự Chúa KITÔ đã hứa”. Sau đó vị linh mục đọc kinh thứ nhất:

“Lạy Chúa là Đấng Bàu Chữa cùng là Thần Lực chúng con, xin Chúa ái tuất đoái thương, mà nhậm lời dân Chúa đang kêu thấu Chúa; và cậy vì Đức Nữ Đồng Trinh MARIA hiển vang và khiết tịnh, Đức Mẹ Chúa Trời, cùng vì Thánh Cả GIUSE, Bạn Thánh Người, và hai thánh Tông Đồ Chúa Phêrô và Phaolo, cùng các thánh nguyện giúp cầu thay, thì chúng con mới dám xin Chúa lân mẫn nhân từ khấng nhậm lấy những lời chúng con cầu khẩn nguyện xin, cho kẻ có tội được ăn năn trở lại, cho Hội Thánh là Mẹ chúng con được tự do an bình thịnh trị. Vì công nghiệp Đức GIÊSU KITÔ là Chúa chúng con. Amen”.

Lời Kinh thứ hai cầu cùng Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Micae:
“A Thánh Micae Tổng Lãnh Thiên Thần, xin tiếp giúp chúng con trong cơn hiểm chiến; lại xin hộ vực cho chúng con lướt thắng mưu sâu chước hiểm của ác quỉ tà ma. Chúng con sấp mình cúi nguyện xin Đức Chúa Trời giam cầm chế trị nó, cùng xin Tổng Lãnh Đạo Binh Thiên Quốc, thừa chưng thần oai thánh lực Chúa Trời, mà hạ ngục cấm cố Satan cùng các quỉ dữ đang rảo quanh thế giới mà nhiễu hại linh hồn thiên hạ. Amen”.

Đến thời Đức thánh Giáo Hoàng Pio 10 (1903-1914), ngài truyền đọc thêm ba lần: “Chúng con kính lạy Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa GIÊSU. Xin thương xót chúng con”.


VI. TÔI TIN CÁC THÁNH THÔNG CÔNG.


1. TÔI TIN CÁC THÁNH THÔNG CÔNG.

... Vào cuối năm 1909, nơi một tỉnh lỵ nước Pháp, chính quyền ra lệnh phân phát cho học sinh các sách giáo khoa bị Giáo Hội Công Giáo Pháp lên án. Một buổi sáng, bé Angela đến trường mà không thuộc bài. Lý do: cha mẹ em là những tín hữu Công Giáo đạo đức, không muốn con mình bị nhồi sọ bởi những tư tưởng vô thần, chối bỏ Thiên Chúa, nên đã tịch thu sách học của em. Bài học buổi sáng hôm ấy nhằm ngay trang sách bị Giáo Hội Công Giáo ngăn cấm. Cô giáo gọi Angela trả bài. Em lễ phép thưa: “Em không thuộc, bởi vì lương tâm em không cho phép em học bài này!” Vô cùng tức giận, cô giáo liền phạt Angela phải chép trọn bài học vô đạo. Angela chỉ biết gục đầu nức nở khóc. Nhưng rồi, em ngưng khóc, ngẩng đầu lên và lấy bút chăm chỉ viết trên vở. Khi viết xong, Angela lau sạch nước mắt và mĩm cười sung sướng.. Nhìn em, cô giáo thật hài lòng và nở nụ cười chiến thắng. Cô vội đến bên em và lấy ngay cuốn vở của em. Nhưng, nhưng, vừa thoạt nhìn trang vở, cô giáo bỗng đổi sắc. Mặt mũi cô tái xanh. Trên trang vở, Angela đã nắn nót viết trọn kinh TIN KÍNH các Tông Đồ, như lời tuyên xưng Đức Tin hùng hồn nhất, chống lại hành động bách hại tôn giáo của nhà nước và của cô giáo:

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là CHA phép tắc vô cùng dựng nên trời
đất. Tôi tin kính Đức Chúa GIÊSU KITÔ là Con Một Đức Chúa Cha cùng
là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa THÁNH THẦN mà Người xuống thai,
sinh bởi Bà MARIA đồng trinh: chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác; xuống ngục tổ
tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại; lên trời ngự bên
hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng;
ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin kính Đức Chúa THÁNH THẦN.
Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,
các thánh thông công.
Tôi tin phép tha tội.
Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.
Tôi tin hằng sống vậy. Amen.

2. TÔI TIN CÁC THÁNH THÔNG CÔNG: CÁC THÁNH NƠI TRẦN GIAN.

Thánh Phaolo Tông đồ viết trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô (12,4-30):

“Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức KITÔ cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, là Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một THÁNH THẦN để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một THÁNH THẦN duy nhất.” “Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi.. Nhưng Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn.. Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại, các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung.” “Vậy anh em là thân thể Đức KITÔ, và mỗi người là một bộ phận. Trong HỘI THÁNH, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất các TÔNG ĐỒ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ. Chẳng lẽ ai cũng là tông đồ? Chẳng lẽ ai cũng là ngôn sứ, ai cũng là thầy dạy sao? Chẳng lẽ ai cũng được ơn làm phép lạ, ai cũng được ơn chữa bệnh sao? Chẳng lẽ ai cũng nói được các tiếng lạ, ai cũng giải thích được các tiếng lạ sao?”.. “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một THÁNH THẦN. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. THÁNH THẦN tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung”..

Giáo huấn trên đây của thánh Phaolo Tông đồ giúp hiểu về sự hiệp thông giữa các tín hữu trong HỘI THÁNH. HỘI THÁNH là huyền-thể, có Đức GIÊSU KITÔ là Đầu, là Thủ Lãnh Tối Cao và tất cả là phần tử của huyền thể này.. Giống như trong thân thể con người, hoạt động của một cơ quan đem lại lợi ích cho toàn thân thể, thì trong Hội Thánh, hoạt động của một phần tử cũng mang đến lợi ích thiêng liêng cho các phần tử khác như vậy. Chẳng hạn, tất cả các tín hữu đều được thông phần vào ơn ích của Thánh Lễ, của các buổi cử hành Phụng Vụ, của các Giờ Kinh Thần Vụ do các Linh Mục và tu sĩ đọc.

Bên cạnh giáo huấn của thánh Phaolo Tông đồ, xin trích dẫn suy tư của thánh nữ TÊRÊXA HÀI ĐỒNG GIÊSU (1873-1897), Nữ Tiến Sĩ Hội Thánh, về mầu nhiệm các thánh thông công. Trong cuốn “Truyện Một Tâm Hồn”, nơi quyển III, chương II, đoạn 2: “Ân ái trong tình liên lạc”, chúng ta đọc:

.. Lần kia một chị nhà tập thưa chị thánh rằng: “Em thiết nghĩ chị sướng lắm, bởi vì chị được Chúa chọn đặt để hướng dẫn các linh hồn đường thơ ấu”. Chị thánh trả lời:

- Sao, chị bảo em sướng ấy à? Em lại dám ước ao được Chúa trọng dụng hơn người khác ư? Này chị ạ, miễn là NƯỚC CHÚA được thiết lập trong các linh hồn, còn vật dụng nào đó có can gì; đàng khác, Chúa không cần ai hết!

- Trước đây ít lâu, có lần em đang chú ý nhìn cái đèn đêm mà bấc đã ngắn, hầu như sắp tắt, một chị liền vội vàng giọi ngọn nến vào đốt, thế mà rồi bởi ngọn nến ấy, các đèn trong nhà được thắp cháy sáng tất cả. Việc cỏn con đó đã làm em ngẫm nghĩ mãi rằng: thế nầy thì còn ai có thể tự phụ công việc mình làm được nữa. Cái tàn lửa hầu tắt kia đã có thể dùng đốt cháy cả thế gian!

- Ta thường tin rằng, được ơn Chúa và được ơn soi sáng, là nhờ các thánh cả cầu bầu, các ngài ví thể những ngọn nến to cháy sáng láng, nhưng bởi từ đâu mà những ngọn nến to ấy cháy sáng láng thế? Có khi là bởi lời cầu nguyện của một linh hồn thơ ấu và mai danh ẩn tích nào đó, bề ngoài tuyệt nhiên không thấy gì là nổi nang là nhân đức, đã tự hạ khiêm nhường dường như là lu mờ cả trước mặt mình vậy.

- A, sau này chúng ta sẽ được hiểu biết bao mầu nhiệm!

- Đã nhiều lần em trầm tư rằng, có khi tất cả những ơn em được Chúa ban xưa nay, đều bởi lời nguyện xin tha thiết của một linh hồn nào đó, mà linh hồn ấy, chỉ khi nào về Thiên Đàng em mới nhận biết được.

- Chúa muốn rằng, ở thế gian này, các linh hồn làm ơn cho nhau bằng lời cầu nguyện, để khi về Thiên Đàng, các linh hồn có thể yêu dấu nhau thắm thiết cho tận tình tận nghĩa, hơn mọi tình nghĩa có thể tưởng tượng được ở thế gian.

- Trên nơi cao sang đó, chúng ta chẳng nhìn nhau bằng cặp mắt dửng dưng: ai nấy sẽ cảm thấy mình được ràng buộc chặt chẽ cùng nhau bằng một giây ân ái nào đó. Chúng ta sẽ không nhìn nhau bằng cặp mắt cạnh khoé ghen tỵ, mà trái lại, hạnh phúc của mỗi người sẽ là hạnh phúc của mọi người. Với các thánh tử đạo, chúng ta sẽ cảm thấy mình hạnh phúc như các ngài; với các thánh tiến sĩ, chúng ta sẽ vui khoái như mình là tiến sĩ; với các thánh đồng trinh, chúng ta sẽ nên như những bông huệ thơm trong trắng. Thật, như anh chị em trong một gia đình được vinh hiển vì nhau thế nào, trên Thiên Đàng chúng ta ta sẽ được vinh hiển vì nhau thế ấy.

- Biết đâu, cái lòng hoan hỉ chúng ta cảm thấy trong mình khi chiêm ngưỡng phúc thanh nhàn cả sáng của các bậc đại thánh, mà chúng ta nhận thấy rằng, bởi phép Chúa an bài, chúng ta cũng đã có phần công vào phúc trọng đó, lòng hoan hỉ ấy, ai dám nói là không cả thể bằng, mà có lẽ còn dịu dàng đằm thắm hơn sự hân hoan vinh phước chính các thánh hưởng.

- Còn phần các thánh, chị em thử nghĩ khi các ngài nhận biết hạnh phúc cao sang các ngài được sung sướng hưởng, cũng là nhờ phần nào công ơn các linh hồn bé nhỏ, thì lẽ nào các ngài chẳng tận tình yêu dấu để báo đáp các linh hồn cho lắm sao. Trong mối liên ân liên ái ấy, em thiết nghĩ sẽ có những niềm vui khoái rất lạ lùng ngoài sức tưởng tượng. Bạn tri âm của đấng thánh thừa sai, của vị thánh tiến sĩ, có lẽ là một em bé mục đồng, và người tình chí thiết của vị thánh tổ phụ lại là một cô gái mộc mạc nhà quê..

- A, bao lâu nữa chúng ta mới được lên hưởng phúc trên nước đầy tình đầy nghĩa ấy!

- Chị hãy tin rằng, sáng tác được nhiều sách đạo đức, dọn được nhiều áng văn hay, tất cả những giá trị văn nghiệp ấy không cao quí bằng một hy sinh nhỏ mọn. Nhưng những khi ta cảm thấy khó chịu vì không có tài làm thơ viết sách - những việc quá đẹp đẽ - cái diệu kế nhất là hãy dâng Chúa những văn phẩm của các tác giả trình bày. Đó là chính nghĩa tốt lành về sự các thánh cùng thông công. Hẳn chị còn nhớ câu văn tình tứ của thánh Gioan Thánh Giá trong ca thiêng liêng:

Chim câu ta hỡi, hãy bay trở về
Con nai phải dấu đã hóa tê mê
Đang đứng cao chót vót trên chòm núi
Đón hơi mình đến tự đôi cánh xòe..
- Chị xem đó, Bạn Thánh là nai phải dấu, không bị quyến dũ bởi ngọn cao chót vót, mà bị quyến dũ chỉ bởi điệu bay, chỉ vì nhịp cánh vỗ nhẹ nhàng đưa ra một thứ hơi phong tình lý thú!”. (Trinh nữ Têrêxa viết, Kim Thiếu dịch: “MỘT TÂM HỒN”. In lần thứ ba do Nguyệt San TRÁI TIM ĐỨC MẸ, trang 352-354).

3. TÔI TIN CÁC THÁNH THÔNG CÔNG: CÁC THÁNH NƠI TRẦN GIAN VÀ TRONG LUYỆN NGỤC.

Cha Giuseppe Tomaselli, người Ý, dòng Salésien Don Bosco, kể lại:

Ngày 3-2-1944, một cụ bà gần 80 tuổi qua đời. Cụ bà đó không ai khác là thân mẫu tôi. Tôi lặng lẽ chiêm ngắm gương mặt mẹ dịu hiền nơi nhà nguyện nghĩa trang, trước khi hạ huyệt. Trong tâm tình con thảo và nhất là trong tư cách linh mục, tôi thì thầm với Mẹ: “Mẹ à, từ ngày có trí khôn đến giờ, con chưa bao giờ thấy mẹ lỗi phạm nặng nề một luật nào của Chúa!” Và tôi hồi tưởng lại những chặng đường qua của cuộc đời mẹ.
Mẹ tôi có một đời sống thật gương mẫu. Sở dĩ tôi được làm linh mục, phần lớn là nhờ công lao của mẹ. Mỗi ngày mẹ tôi đều tham dự thánh lễ, rước lễ, kể cả vào những năm cuối đời, khi tuổi đã cao. Khi đi cũng như lúc về, mẹ tôi đều cầm tràng hạt trong tay. Mỗi khi rỗi rãnh, mẹ tôi thường lần hạt, đọc kinh Mân Côi. Mẹ tôi rất có lòng bác ái, thương người đến độ mất một con mắt, chỉ vì đã liều mạng cứu sống một phụ nữ nghèo. Chưa hết. Mẹ tôi luôn chấp nhận thánh ý Chúa. Ngày thân phụ tôi qua đời, mẹ tôi hỏi: “Trong lúc này đây, mẹ có thể than thở gì với Chúa Giêsu để làm đẹp lòng Ngài? “Tôi trả lời: “Mẹ cứ lập đi lập lại câu: Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa được thực hiện”.

Trên giường bệnh, mẹ tôi lãnh nhận tất cả các Bí Tích sau cùng với niềm tin sâu xa. Mấy giờ trước khi tắt thở, mẹ tôi đau đớn vô cùng. Nhưng mẹ không ngừng thưa: “Lạy Chúa GIÊSU, con muốn xin Chúa giảm cơn đau cho con. Tuy nhiên, con không muốn áp đặt ý con trên ý Chúa. Trái lại, xin cho ý Chúa được thể hiện!” Với những lời sau cùng này, mẹ tôi - người phụ nữ đã cưu mang, sinh ra và dưỡng dục tôi nên người - trút hơi thở cuối cùng.

Sau khi mẹ qua đời, ai ai cũng nức lời khen ngợi mẹ tôi, người đàn bà đức hạnh. Tuy nhiên, tôi không để ý đến lời ca tụng của người đời cho bằng nghĩ đến sự phán xét công minh của Thiên Chúa. Do đó tôi làm nhiều việc lành, sốt sắng dâng thánh lễ và không ngừng cầu nguyện cho linh hồn mẹ tôi sớm được tận hưởng Thánh Nhan Chúa. Ngoài ra, mỗi khi có dịp giảng, tôi đều nhắn nhủ các tín hữu hãy năng nhớ giúp đỡ các linh hồn nơi Luyện Ngục. Giúp đỡ bằng nhiều cách: tham dự thánh lễ, rước lễ và làm việc lành phước đức, bố thí giúp đỡ người nghèo ..

Thiên Chúa Nhân Lành đã cho phép mẹ tôi hiện về với tôi. Đúng hai năm rưỡi sau khi qua đời, mẹ tôi bỗng xuất hiện trong phòng, dưới hình dạng con người. Mẹ trông thật buồn bã. Mẹ tôi nói: “Các con đã bỏ quên mẹ trong Luyện Ngục!” Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Ủa, cho tới bây giờ mà mẹ còn ở trong Luyện Ngục hay sao?” Mẹ tôi đáp: “Đúng thế. Mẹ vẫn còn ở trong Luyện Ngục. Bóng tối vây phủ linh hồn mẹ, khiến mẹ không thể trông thấy Ánh Sáng là Thiên Chúa .. Mẹ đang ở ngưỡng cửa Thiên Đàng, gần nơi an vui vĩnh cửu và mẹ nồng nhiệt ước muốn được vào, nhưng mẹ không thể nào vào được! Không biết bao nhiêu lần mẹ tự nhủ: Nếu các con biết mình đang bị dằn vặt khốn khổ khôn lường, hẳn là chúng đã cấp tốc ra tay cứu giúp mình!”

Tôi hỏi tiếp: “Sao trước đây mẹ không hiện về báo cho chúng con biết?” Mẹ tôi buồn bã trả lời: “Mẹ đâu có được phép!”. Tôi lại hỏi: “Mẹ vẫn chưa được trông thấy Chúa sao?”. Mẹ tôi nói: “Khi vừa tắt thở, mẹ đã được trông thấy Chúa, nhưng chưa được trông thấy trọn Ánh Sáng Vinh Quang của Chúa”. Tôi hỏi tiếp: “Chúng con có thể làm được gì để giúp mẹ ra ngay khỏi Luyện Ngục?” Mẹ tôi nói: “Mẹ chỉ cần duy nhất một thánh lễ. Chúa cho phép mẹ hiện về để xin con điều đó”. Tôi không quên dặn dò mẹ: “Khi nào được vào Thiên Đàng, mẹ nhớ hiện về ngay báo tin cho con biết”. Mẹ tôi nói: “Nếu Chúa cho phép mẹ hiện về .. Ôi Ánh Sáng thật tuyệt đẹp!”. Vừa nói, mẹ tôi vừa biến mất. Chúng tôi dâng ngay 2 thánh lễ cầu cho linh hồn mẹ. Một ngày sau, mẹ tôi hiện về nói: “Mẹ đã được vào Thiên Đàng rồi! Cám ơn các con..”

4. TÔI TIN CÁC THÁNH THÔNG CÔNG: CÁC THÁNH NƠI TRẦN GIAN VÀ CÁC THÁNH TRÊN THIÊN ĐÀNG.

Cha Giuseppe Benedetto Cottolengo (1786-1842) là một linh mục thánh thiện người Ý. Cha là sáng lập viên một dòng tu chuyên săn sóc các bệnh nhân.

Năm 1863, một phụ nữ cao tuổi theo Do thái giáo tên Sara Pescarolo, lâm trọng bệnh và được đưa vào nhà thương, nơi có các tu sĩ thuộc dòng cha Cottolengo phục vụ.

Cha Domenico Bosso, linh mục tuyên úy nhà thương, thường đến thăm bà và rất mong muốn bà trở lại đạo Công Giáo. Cha âm thầm cầu nguyện cùng linh mục sáng lập dòng, xin ngài ra tay can thiệp, bầu cử trước tòa Chúa. Rồi cha Bosso tìm cách nói xa nói gần với bà Sara về ơn trọng đại của bí tích rửa tội. Nhưng bệnh nhân hiểu ngay, bà trả lời cách dứt khoát: “Không. Thưa ngài không. Bây giờ thì không!”

Một ngày, thấy bệnh nhân đi vào giai đoạn ngặt nghèo, cha Bosso lại nhất định nói với bà Sara về bí tích rửa tội. Thấy bà có vẻ sẵn sàng nhận lãnh, cha liền chuẩn bị ban cho bà bí tích Rửa Tội. Không ngờ bà nổi giận, lấy tay đẩy mạnh cha ra xa và nói rõ ràng bà không muốn bị ép buộc lãnh nhận bí tích này. Thấy mình hiểu sai ý muốn của bệnh nhân, cha Bosso liền xin lỗi và phân trần: “Sỡ dĩ tôi chuẩn bị ban bí tích rửa tội cho bà là vì tôi hiểu lầm ý bà. Vậy xin bà an tâm. Đạo Công Giáo ngăn cấm chúng tôi ban phép rửa tội cho ai không ngỏ ý muốn lãnh nhận bí tích này. Vì thế, chúng tôi không bao giờ dùng áp lực buộc ai cả”.

Cha Bosso đến nhà nguyện và thưa với vị sáng lập dòng như sau: “Thưa cha Cottolengo, nếu cha đang ở trên thiên đàng, đúng như con tin tưởng chắc chắn như vậy, và nếu cuộc điều tra phong thánh cho cha sắp bắt đầu trong vài ngày tới đây là điều vinh danh Chúa, thì xin cha hãy cho con một dấu hiệu. Dấu hiệu đó là: Xin cha cho bà do thái Sara Pescarolo được ơn trở lại đạo Công Giáo. Nhưng lần này, chính bà phải tự ý công khai xin con đến ban bí tích Rửa Tội cho bà .. chứ không phải con hỏi bà có muốn được rửa tội hay không!”

Điều đáng nói đầu tiên là bà Sara không tắt thở đêm đó, nhưng bệnh tình có vẻ khả quan hơn. Ngay sáng sớm hôm sau, cô y tá đến gặp cha Bosso và nói: “Thưa cha, đêm qua ba lần, bà Sara ngỏ ý muốn gặp cha và xin cha ban bí tích Rửa Tội cho bà”. Cha Bosso vui mừng đến phòng bà Sara. Sau khi nghe bà Sara bày tỏ ước nguyện được gia nhập Giáo Hội Công Giáo, cha Bosso không ban bí tích rửa tội ngay cho bà, nhưng cha cẩn thận cho mời hai nhân chứng đến. Và trước mặt hai nhân chứng này, cha Bosso xin bà Sara tuyên bố rõ ràng ước nguyện xin rửa tội của bà.

Chúa Nhật kế tiếp, trước mặt ba nhân chứng, cha Bosso lại chất vấn bà Sara thêm một lần nữa. Sau đó cha ban bí tích Rửa Tội cho bà. Bà Sara thật cảm động và sung sướng. Tám ngày sau, khi một vị rabbi Do Thái đến thăm, bà nghiêm trang nói với rabbi: “Thưa rabbi, chính con là người tự ý xin được lãnh nhận bí tích Rửa Tội và gia nhập Giáo Hội Công Giáo, chứ không có một ai ép buộc con cả”. (Cha Giuseppe Benedetto Cottolengo được Đức Benedetto 15 tôn phong chân phước năm 1913 và Đức Pio XI nâng lên hàng hiển thánh năm 1933).

5. GIÁO HỘI CÔNG GIÁO NGĂN CẤM VIỆC LIÊN LẠC VỚI MA QUỶ VÀ NGƯỜI CHẾT QUA VIỆC: THỜ SATAN, CẦU CƠ VÀ ĐỒNG BÓNG.

Trong tiểu sử thánh Jean-Marie Vianney (1786-1859), cha sở họ Ars, người ta đọc thấy nhiều câu chuyện liên quan đến ma quỷ. Đó là những vụ thánh nhân trừ quỷ, và những vụ thánh nhân bị ma quỷ quấy phá. Nhưng còn có điểm đáng chú ý khác. Đó là việc thánh nhân coi các buổi cầu cơ - gọi hồn người chết - là những buổi có bàn tay can thiệp của ma quỷ. Sau đây là hai trường hợp điển hình.

.. Bá tước Jules de Maubou có nhà cửa đất đai tại Beaujolais, không xa Villefranche, nơi có họ đạo Ars. Bá tước là bạn của cha Vianney. Do đó mỗi khi có dịp về vùng này, ông đều ghé thăm hoặc xưng tội với cha thánh. Trong cuộc sống vương giả, nhiều lần ông cũng thích tham dự vào những buổi cầu cơ, vì chìu ý bạn bè hơn là vì lòng ham thích.

Sau đó hai ngày, ông ghé về xứ Ars. Từ xa, trông thấy cha sở Vianney, ông vội vã tiến đến bắt tay chào hỏi. Nhưng ông thật ngạc nhiên khi thấy cha thánh ra hiệu ngăn tay ông lại. Thánh nhân nhìn ông vừa buồn bã vừa nghiêm khắc nói: “Ô Jules, hôm kia, anh đã giao dịch với ma quỷ! Hãy vào đây xưng tội ngay!”. Ngoan ngoãn, bá tước Jules theo cha sở vào tòa và đơn sơ xưng tội.

Khi trở lại thủ đô Paris, các bạn hữu mời bá tước Jules tham dự một buổi cầu cơ. Bá tước nhất định từ chối. Thấy thế, các bạn ông bắt đầu cuộc chơi, bất chấp sự khước từ của ông. Bá tước lùi ra một góc phòng, ngồi nhìn các bạn, nhưng trong lòng, ông hoàn toàn chống lại trò chơi này. Những người tham dự cuộc chơi ngồi chung quanh một chiếc bàn và giơ tay chạm vào con cơ, để điều khiển nó quay và trả lời những câu hỏi do họ đặt ra. Nhưng lạ lùng thay, con cơ cứ đứng im tại chỗ, không nhúc nhích. Người chủ cuộc chơi hết sức ngạc nhiên. Sau cùng, ông ta đành thú nhận: “Tôi chưa từng thấy như thế này bao giờ! Chắc chắn là đang có mặt một quyền lực nào mạnh lắm, mới có thể chận đứng buổi cầu cơ của chúng ta!”

... Tiếng thơm thánh thiện của cha sở họ Ars vang thật xa. Charles de Montluisant, một sĩ quan trẻ tuổi, vì tò mò, quyết định rủ một nhóm bạn cùng về Ars để xem chơi. Trên đường, họ bỗng nẩy ra ý kiến là mỗi người phải hỏi cha sở họ Ars một câu. Charles tuyên bố: “Tôi không có gì thắc mắc, nên tôi không hỏi gì hết!”.

Khi đến nơi, giáp mặt với cha Jean-Marie Vianney, một người nói đùa: “Thưa cha, đây là anh De Montluisant, một đại úy trẻ tuổi tương lai, anh ta có điều muốn hỏi cha”. Nghe bạn đùa, Charles liền nhảy vào vòng chơi. Anh thưa với cha sở: “Chuyện ma quỷ quấy phá cha mà người ta chuyền miệng nhau, là chuyện tưởng tượng, không có thật phải không thưa cha?”. Trước khi trả lời, cha thánh Vianney nhìn thẳng vào mắt anh và nói: “Anh bạn của tôi ơi, anh đã từng có kinh nghiệm về vấn đề này rồi mà! Nếu anh không làm điều anh đã làm, hẳn là anh cứ bị đeo đuổi dài dài!”..

Câu nói nửa đùa nửa thật ấy đã làm nhóm bạn ngạc nhiên. Họ thắc mắc nhìn nhau. Nhưng họ càng ngạc nhiên hơn khi thấy chàng Charles cứng miệng, không đáp lại được lời nào!..

Khi rời Ars, dĩ nhiên các bạn không để cho Charles được yên. Họ muốn biết ý nghĩa câu trả lời của cha sở. Charles đành kể lại cho các bạn nghe câu chuyện của chàng: “Khi còn là sinh viên học ở Paris, tôi theo một nhóm bạn thường tổ chức các buổi cầu cơ. Một buổi tối, khi trở lại phòng trọ, sau một buổi cầu cơ, tôi có cảm tưởng là trong phòng có thêm sự hiện diện vô hình của một người nào đó. Lo sợ trước một cảm giác kỳ lạ như thế,
tôi lục lọi tìm kiếm mọi xó trong phòng, nhưng không thấy có gì khác lạ. Buổi tối hôm sau, khi trở lại phòng riêng, tôi cũng có y một cảm giác như tối hôm trước. Kinh khiếp hơn, tôi còn cảm thấy một bàn tay vô hình bóp chặt cổ tôi. Rất may là tôi có đức tin. Ngày hôm sau, tôi đến nhà thờ giáo xứ Saint-Germain-l'Auxerrois, nơi tôi vẫn thường đi lễ, xin Nước Phép (Nước Thánh). Tôi mang Nước Phép về, rảy trong phòng, khắp mọi xó, không trừ xó nào, góc nào. Nhưng kể từ đó, tôi không còn bị quấy phá nữa. Và đây chính là điều mà cha sở Jean-Marie Vianney muốn trả lời cho nghi ngờ của tôi về việc tôi không tin chuyện Ngài bị ma quỷ quấy phá..”.

Kinh Thánh Cựu Ước nói rõ ràng về việc Giavê Thiên Chúa ngăn cấm dân Do Thái chạy theo các khoa huyền bí, đồng bóng và thờ Satan. Sách Đệ Nhị Luật, chương 18, câu 9-14: “Khi ngươi vào xứ sở mà Giavê Thiên Chúa ngươi trao cho ngươi, thì ngươi đừng bắt chước các tập tục quái gở của dân xứ này. Ngươi không được phép dùng lửa mà thiêu sống con trai hay con gái ngươi. Trong dân, không được có thầy bói, không có nhà chiêm tinh, người xem tướng số, phù thủy, cũng không được dùng bùa mê, hỏi ý người chết hay thầy bói, cũng không được gọi hồn người chết trở về. Bởi vì, Giavê là Thiên Chúa ngươi, gớm ghét những kẻ làm các trò quái gở ấy, và cũng chính vì những chuyện quái gở ấy mà Giavê Thiên Chúa xua đuổi các dân tộc đó đi xa ngươi. Ngươi phải hoàn toàn thuộc về Giavê là Thiên Chúa ngươi. Các dân tộc mà ngươi sắp xua đuổi đi, tin theo các lời chiêm tinh cùng bói toán, còn ngươi, Giavê Thiên Chúa ngươi, không cho phép ngươi tin như vậy”.

Huấn lệnh của Thiên Chúa quá rõ ràng. Bởi vì, tương lai thế giới cùng vận mệnh con người nằm trong tay Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa là Chủ Tể Duy Nhất. Chúng ta thông hiệp với người chết bằng cách cầu nguyện cho các linh hồn còn được thanh luyện nơi Lửa Luyện Ngục và xin các thánh đang được hưởng phúc trên Thiên Đàng cầu bầu cho chúng ta trước tòa Chúa.

Các tín hữu Kitô trong cùng một Hội Thánh duy-nhất, thánh-thiện, công-giáo và tông-truyền thông công với nhau, bởi vì tất cả làm thành một thân thể duy nhất có Đức GIÊSU KITÔ làm Đầu và Đức Chúa THÁNH THẦN là Đấng Thánh Hóa.. Các tín hữu Kitô còn sống nơi trần gian, các linh hồn trong Luyện Ngục và các thánh trên Thiên Đàng, tất cả làm thành một HUYỀN THỂ DUY NHẤT.


VII. TÔI TUYÊN XƯNG CÓ MỘT PHÉP RỬA ĐỂ THA TỘI.


... Câu chuyện xảy ra tại cứ điểm truyền giáo Nakhon Ratchasima, Thái Lan. Vào năm 1930, một nông dân Phật tử cạo đầu đi tu lần thứ ba. Lần đầu, ông vào tu chùa năm 20 tuổi. Đấy là thông lệ của tất cả các thanh niên Phật tử Thái Lan. Lần đó ông chỉ ở lại chùa một thời gian ngắn rồi xuất tu và lập gia đình. Lần thứ hai khi mẹ ông qua đời, ông lại cạo đầu vào tu chùa trong vòng một năm. Lần thứ ba khi vợ mất, ông giao tất cả con cái cho một người bà con dưỡng dục, rồi dứt khoát vào chùa tu. Lần này ông nhất định ở lại chùa để cầu siêu cho hương hồn người vợ quá cố. Nhưng cùng với ý hướng này, ông còn có thêm một mục đích khác. Ông vào tu chùa để xin ơn tha thứ và được giải thoát khỏi mọi tội lỗi..

Vốn là nông dân ít học, ông đi từ chùa này sang chùa khác. Ông tìm gặp các vị sư cao niên lỗi lạc, kinh nghiệm lâu năm trên đường chay tịnh. Ông muốn học hỏi một cách thức tu thân hữu hiệu, hầu được giải thoát khỏi mọi tội lỗi đã phạm. Nhưng không có vị sư nào đưa ra phương pháp gì có vẽ chắc chắn khiến ông an lòng. Thất vọng vẫn hoàn thất vọng. Ông lại tiếp tục lang thang tìm kiếm một phương thức tu tịnh khác, hầu có sức tẩy sạch mọi tội lỗi.

Một ngày, ông tình cờ gặp một tín hữu Công Giáo. Ông đem nổi lòng ra bày tỏ: “Làm sao để được tha tội?”. Tín hữu Công Giáo đơn sơ đáp: “Đạo Công Giáo dạy rằng: Đức GIÊSU KITÔ đã lập ra hai bí tích RỬA TỘI và GIẢI TỘI để tha thứ tội lỗi cho con người. Đúng là hai bí tích mà ông đang khó nhọc tìm kiếm. Ông hãy đi gặp ngay một linh mục Công Giáo. Ngài đang ở gần đây. Chắc chắn ngài sẽ giải thích rõ ràng cho ông hiểu điều mà ông mong ước”.

Tín đồ Phật giáo liền đến gặp vị linh mục Công Giáo. Và ông hoàn toàn thỏa mãn khi nghe vị linh mục Công Giáo trình bày giáo lý về hai bí tích RỬA TỘI và GIẢI TỘI. Ông cởi bỏ áo cà sa và xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Từ đó, ông trở thành tín hữu Công Giáo nhiệt thành. Ông hăng say rao truyền giáo lý đạo Công Giáo và đem được rất nhiều người dân cùng làng trở về với Kitô Giáo.

1. TÔI TUYÊN XƯNG CÓ MỘT PHÉP RỬA ĐỂ THA TỘI.

Mỗi người đều kinh nghiệm sâu xa rằng, nếu không có sự trợ giúp của ơn thánh Chúa, con người sẽ sa ngã phạm tội cách dễ dàng. Lý do: bản tính con người bị suy nhược vì hậu quả của “tội tổ-tông”. Do đó, Đức GIÊSU, Con Thiên Chúa, đã xuống thế làm người để chuộc tội và giải thoát loài người khỏi ách nặng của tội nguyên-tổ. Đức GIÊSU KITÔ đã chết và đã sống lại. Ngài chỉ chết duy nhất một lần. Và từ cái chết của Ngài đã mang lại ơn thánh vô biên. Nhưng con người có xác phàm, cần một dấu chỉ để hiểu và củng cố Đức Tin yếu kém. Chính vì thế mà Đức GIÊSU KITÔ đã thiết lập 7 Bí Tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Giải Tội, Xức Dầu Thánh, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối. Trong 7 Bí Tích này, có 2 “Bí Tích kẻ chết”: Rửa Tội và Giải Tội. Còn lại là 5 “Bí Tích kẻ sống”: Thêm Sức, Thánh Thể, Xức Dầu Thánh, Truyền Chức Thánh và Hôn Phối.

“Bí Tích kẻ chết”, có nghĩa là kẻ chết về phần linh hồn. Khi một người phạm tội, đặc biệt là tội trọng, thì linh hồn người đó bị chết, vì bị cắt đứt liên hệ với Thiên Chúa. Bí Tích Rửa Tội và Giải Tội trao ban ơn thánh, tức là trao ban trở lại sự sống cho linh hồn.

“Bí Tích kẻ sống”. Tín hữu chỉ được phép lãnh nhận 5 Bí Tích này khi linh hồn đang sống trong ơn nghĩa Chúa, nghĩa là, không bị mắc tội trọng. “Trước lễ Vượt Qua, trong bữa ăn tối, Đức GIÊSU đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức GIÊSU đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Gioan 13,1-5). Đức GIÊSU đã rửa chân cho các tông đồ, trước khi Ngài thiết lập bí tích Thánh Thể. Có thể nói được rằng, Đức GIÊSU đã thiết lập bí tích Rửa Tội trước khi thiết lập bí tích Thánh Thể. Đức GIÊSU đã tẩy sạch các tông đồ khỏi mọi tội lỗi, trước khi cho các vị được lãnh nhận chính Mình cùng Máu Thánh Ngài.

Sau khi sống lại và trước khi về trời, Chúa GIÊSU KITÔ lại một lần nữa quy định rõ ràng nghi thức Rửa Tội: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh CHÚA CHA, CHÚA CON và CHÚA THÁNH THẦN, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20).

Đức GIÊSU nói với ông Nicôđêmô: “Thật, Thầy bảo thật ông: Không ai có thể vào được Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và THÁNH THẦN” (Gioan 3,5).

Đức GIÊSU tỏ mình ra cho nhóm mười một Tông Đồ. Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo TIN MỪNG cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16,16).

Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: “Sẵn có nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không?”. Ông Philipphê đáp: “Nếu ngài tin hết lòng, thì được”. Viên thái giám thưa: “TÔI TIN ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ CON THIÊN CHÚA”. Ông truyền dừng xe lại. Ông Philipphê và viên thái giám, cả hai cùng xuống chỗ có nước, và ông Philipphê làm phép rửa cho ông quan” (Công Vụ Tông Đồ 8,36-38).

Ông Phêrô đáp: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức GIÊSU KITÔ, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là THÁNH THẦN” (CVTĐ 2,38).

... Stephane Mauriac là tín hữu tân tòng người Pháp, 30 tuổi. Là tín hữu tân tòng, nhưng Stephane lại chào đời trong một gia đình Công Giáo. Lý do là vì cha mẹ của Stephane không muốn rửa tội cho con khi con còn nhỏ.. Hoàn cảnh không thuận lợi cho việc lãnh nhận Đức Tin, nhưng Chúa Quan Phòng đã dẫn dắt và giúp Stephane tiến đến bí tích Rửa Tội. Chính chàng kể lại cuộc hành trình tìm kiếm lòng tin như sau:

Tôi sinh ra và lớn lên tại Paris, thủ đô nước Pháp. Sống tại Paris nên tôi thường đến kính viếng nhà nguyện của các Nữ Tử Bác Ái thánh Vinh Sơn Phaolo ở đường “du Bac”, nơi Đức Mẹ hiện ra với thánh nữ Catherine de Labouré vào năm 1830. Có lẽ ơn gọi tín hữu Công Giáo của tôi nẩy sinh từ đó. Thỉnh thoảng, tôi có đem vấn đề rửa tội ra trình bày với cha mẹ, nhưng ông bà gạt đi và nói: “Để thủng thẳng rồi tính, đợi khi nào con bước vào tuổi trưởng thành hẳn hay!” Phản ứng của Ba Má tôi là thế. Đối với bạn bè lại càng tệ hơn. Nơi học đường và trong môi trường làm việc, chúng tôi không bao giờ đề cập đến vấn đề tôn giáo và chúng tôi trốn tránh danh xưng “Kitô hữu”!

Năm 1988, tôi rời thủ đô Paris và chuyển về sinh sống tại miền quê. Nơi đây, sau nhiều biến cố dồn dập xảy ra, tôi quyết định đến gặp cha sở. Tôi xin theo học lớp giáo lý tân tòng để chuẩn bị lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Rủi thay, trong giáo xứ, không có lớp giáo lý cho người lớn, nhưng chỉ có các lớp giáo lý dành cho trẻ em. Tôi đành kiên nhẫn chờ đợi.

Bốn năm trôi qua và vào năm 1992, có hai thanh niên khác cũng muốn xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Thế là chúng tôi làm thành một lớp giáo lý gồm 3 người. Chúng tôi họp nhau mỗi tháng một lần. Ban đầu cha sở trao cho chúng tôi một cuốn giáo lý nhỏ. Sau đó, chúng tôi thường học hỏi, bàn thảo và đào sâu giáo lý Công Giáo bắt đầu từ cuốn Phúc Âm. Riêng tôi, tôi may mắn được một đôi vợ chồng trẻ hướng dẫn và đồng hành trên con đường tiến đến việc lãnh nhận Đức Tin.

Trước khi chịu phép Rửa Tội, tôi vẫn có thói quen cầu nguyện. Rồi tôi cùng đi lễ Chúa nhật với cha mẹ đỡ đầu. Giờ đây, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, cầu nguyện trở thành cần thiết như hít thở. Tôi rất thích cầu nguyện và hoàn toàn bám víu vào việc cầu nguyện. Tôi chỉ gặp một chút vấn đề khi đọc kinh LẠY CHA tới câu: “Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Tôi thích đổi câu này thành: “như chúng con cố gắng tha kẻ có nợ chúng con”. Đôi lúc tôi không hiểu tại sao khi đi lễ Chúa nhật, các tín hữu âu yếm mĩm cười với nhau lúc bắt tay trao đổi bình an, nhưng rồi sau đó, trong cuộc sống hàng ngày, lại không tiếc lời chửi rủa và thóa mạ nhau! Nơi miền quê tôi đang sinh sống, tôi nhận thấy người dân sống gần Chúa GIÊSU hơn là những kẻ sống ở thành thị! Đối với dân làng, đi nhà thờ có nghĩa là đi dự cuộc họp giữa những người cùng tin vào Chúa GIÊSU KITÔ và cùng tìm kiếm một giải đáp cho các vấn đề của cuộc sống thường ngày của con người.

Bí tích Rửa Tội trở thành một sự kiện quan trọng trong cuộc đời tôi. Tôi đã vượt qua một giai đoạn. Giờ đây tôi cảm thấy thoải mái và hạnh phúc. Nếu có ai xin tôi đồng hành với các tân tòng thì tôi sẵn sàng chấp nhận. Bởi lẽ, đã có người sẵn sàng giúp tôi thì sao tôi lại không sẵn sàng giúp đỡ người khác? Trở thành tín hữu Công Giáo đã thay đổi hẳn cuộc đời tôi. Tôi cảm thấy mình cởi mở hơn đối với người khác, điều mà trước đây tôi không làm được. Trước đây, chỉ cần ai đó làm phật ý tôi, tức khắc tôi loại trừ người đó khỏi mối quan hệ với tôi!

Sau khi lãnh nhận bí tích RỬA TỘI, tôi có thể nói như thánh Phaolo tông đồ: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi sống, mà là chính Chúa GIÊSU KITÔ sống trong tôi!” (Ga 2,20).

2. TÔI TIN PHÉP THA TỘI.

.. Simon Phêrô thưa: “THẦY là ĐẤNG KITÔ CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG”. Đức GIÊSU nói với ông: “Này Simon con ông Giona, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là CHA của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây HỘI THÁNH của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,16-19).

.. Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi nhà các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa GIÊSU hiện đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Chúc anh em được bình an! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy THÁNH THẦN. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Gioan 20,19-23).

Đức GIÊSU KITÔ biết rõ sự yếu đuối của con người nên Ngài thành lập bí tích GIẢI TỘI để tha tội cho con người. Tha không phải 7 lần, nhưng là 77 lần 77, nghĩa là vô giới hạn, bởi vì, lòng Từ Bi Thiên Chúa thì vô biên.

.. Đức GIÊSU nói với ông Simon Pharisêu: “Tội của chị ấy rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị ấy đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”. Rồi Đức GIÊSU nói với người phụ nữ: ”Tội của chị đã được tha rồi” (Lc 7,47-48).

.. Người gian phi sám hối thưa với Đức GIÊSU: “Thưa Ngài GIÊSU, khi Ngài vào NƯỚC của Ngài, xin Ngài nhớ đến con!” Đức GIÊSU nói với anh ta: “Thầy bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Thầy trên Thiên Đàng” (Lc 23 42-43).

... Hélène là một thiếu nữ Công Giáo người Pháp, 18 tuổi. Cô đã đơn sơ trình bày kinh nghiệm gặp gỡ Chúa GIÊSU KITÔ qua bí tích Giải Tội:

Tôi cảm thấy vui mừng khôn tả vì được chia sẻ với bạn điều mà Chúa GIÊSU đã ban cho tôi qua bí tích Giải Tội. Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy hơi lo lo, vì chia sẻ, tức là mở một chút con tim và đời sống riêng tư của mình ra cho người khác xem. Cùng lúc, chia sẻ cũng có nghĩa là sẵn sàng bênh vực Đấng mà chúng ta tôn thờ và yêu mến. Vì thế, tôi xin Chúa GIÊSU và Mẹ MARIA giúp tôi biết sống trong sự thật, chỉ chia sẻ cách đơn sơ những ân lành tôi nhận được. Bởi vì, ân lành là hồng ân nhưng không đến từ Thiên Chúa.

Tôi sinh ra trong một gia đình Công Giáo giữ đạo bình thường. Do đó tôi được cha mẹ Rửa Tội ngay khi mới chào đời. Khi đến tuổi khôn, tôi theo học lớp giáo lý và chuẩn bị xưng tội cùng rước lễ lần đầu. Sau đó, tôi lãnh nhận bí tích Thêm Sức. Tôi nhớ rất rõ lần xưng tội lần đầu, hôm trước ngày rước lễ lần đầu. Tôi cảm thấy lo âu vì phải thú tội mình ra với một người, cho dù người ấy là vị linh mục..

Sau lần xưng tội lần đầu, tôi tiếp tục xưng tội thường xuyên, trước mỗi khi mừng các ngày lễ trọng theo niên lịch của Giáo Hội Công Giáo. Tuy nhiên, tôi chỉ xưng tội vì bổn phận, để có được lương tâm bằng an, thế thôi.. Cứ mỗi lần đi xưng tội, tôi đều cảm thấy lo âu. Điều khó làm nhất, là tôi phải xưng thú các tội phạm lỗi điều răn thứ 6 và thứ 9, liên quan đến đức trong sạch. Bởi vì, tôi cảm thấy thật xấu hổ và không bao giờ thổ lộ với ai về các yếu đuối lỗi lầm này. Và tôi phải chiến đấu với chính mình lâu lắm, rồi mới có can đảm xưng thú các tội lỗi ra. Đến lúc xưng tội, tôi lại nói thật nhỏ, mà có lẽ vị linh mục già nặng tai không nghe rõ tất cả các tội phạm của tôi..

Cho đến một ngày, trong khi chuẩn bị nghi thức tuyên xưng Đức Tin, lời giải thích của vị linh mục về bí tích Giải Tội, đã thay đổi hẳn tâm tình tôn giáo của tôi. Vị linh mục nói: “Cha biết rõ là giới trẻ các con thường xấu hổ về các tội phạm lỗi đức trong sạch, nên các con dấu tội, không xưng ra mỗi khi đi xưng tội! Vậy cha lấy một ví dụ để các con dễ hiểu. Một cánh cửa có đến 7 chốt. Nếu người ta chỉ mở có 6, còn chốt thứ 7 quá cứng không mở được, thì cánh cửa sẽ vẫn luôn luôn bị đóng, không thể nào bước vào nhà được!” Lời giải thích của vị linh mục giúp tôi hiểu được rằng: “Bao lâu tôi còn dấu ẩn một tội phạm đè nặng trên lương tâm và tâm hồn tôi, thì bấy lâu, Chúa GIÊSU không thể nào bước vào tâm lòng tôi. Ngài phải đứng ngoài cửa và chờ đợi! ..”

Từ hai năm qua, Đức Tin của tôi được củng cố vững mạnh hơn, vì tôi khám phá ra rằng: Chúa GIÊSU yêu thương tôi. Ngài là Đấng Hằng Sống. Chính Ngài làm cho tôi sống và Đức Tin không phải là vấn đề thuộc phạm vi bổn phận, nhưng thuộc lãnh vực con tim. Thế là, tất cả những gì đè nặng trên con tim, tôi đều thổ lộ và xưng thú trong bí tích Giải Tội. Bí tích Giải Tội thực sự trở thành bí tích mang lại sự sống cho linh hồn và cho Đức Tin của tôi. Thật là an ủi và hạnh phúc khi cảm thấy tội lỗi của mình được tha thứ và các vết thương được một bàn tay nhân từ chữa lành.

Bạn đừng nên nghĩ rằng, thật là tủi nhục khi phải tự nhận mình là kẻ bé nhỏ, yếu đuối và bị tổn thương trước mặt Thiên Chúa. Nói cho đúng, không một ai muốn phơi bày những thấp hèn của mình ra cho người khác thấy. Nhưng chúng ta nhớ rằng, Đức GIÊSU đến trần gian là để chữa lành những kẻ bệnh tật và cứu vớt những người tội lỗi. Và chính nhờ tâm tình khiêm tốn tự xưng thú lỗi lầm của chúng ta, mà Chúa GIÊSU tỏ lòng nhân hậu đối với chúng ta. Ngài ban ơn tha thứ cho chúng ta và chữa lành mọi vết thương nơi tâm hồn chúng ta.

Vậy thì, hỡi bạn yêu dấu, xin bạn đừng co cụm với tội lỗi của mình, nhưng hãy mở rộng lòng ra, bày tỏ với Chúa GIÊSU. Ngài sẽ yêu thương và bình an của Ngài sẽ đầy tràn nơi tâm hồn bạn. Chính Ngài đã phán: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Các con hãy mang lấy ách của Thầy, và hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn các con sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Thầy êm ái và gánh Thầy nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

... Chứng từ sau đây của Patrice, người Pháp, 23 tuổi. Cô viết:

Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội Hòa Giải vì Giáo Hội cống hiến cho các tín hữu Tình Yêu vô bờ của Đức GIÊSU KITÔ, Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, qua bí tích Giải Tội. Bí Tích Giải Tội là phương dược chữa lành tâm hồn khỏi các chước cám dỗ và tội lỗi.

Cách đây 2 tháng, tôi theo xứ đạo đi hành hương Lộ Đức. Khi đến Lộ Đức, tự nhiên có một sức mạnh vô hình thúc đẩy tôi đến nhà nguyện có đặt khoảng 40 tòa giải tội và có các linh mục ngồi tòa. Nhà nguyện này còn mang tên “Dưỡng Đường các linh hồn đi lạc”. Khi tôi đến nhà nguyện thì đã có khoảng 20 tín hữu đang chờ đến lượt vào tòa. Hình ảnh này khiến tôi liên tưởng đến các bệnh nhân đang ngồi đợi đến lượt vào khám bác sĩ.. Buổi chiều hôm ấy, tôi cũng có cảm tưởng mình đang ở dưỡng đường, nhưng không phải để chữa chứng đau nhức thần kinh, mà là để gặp gỡ Đấng hằng chờ đợi và luôn yêu thương tôi.. Chúa GIÊSU đang ngồi nơi tòa giải tội, đang chờ đợi chúng ta đến xưng thú mọi lỗi lầm, để tha thứ cho chúng ta 7 lần 77 lần 7 lần! Với lòng nhân hậu bao la và qua trung gian của vị linh mục, Chúa GIÊSU KITÔ giao hòa tôi với Hội Thánh và với các anh chị em tôi.

Nếu hôm nay, tôi gặp một người trẻ hoài nghi về sự cần thiết của bí tích Giải Tội, tôi có thể nói với bạn trẻ đó rằng: “Người ta thường xem việc xưng tội như là một hành vi lỗi thời của những người quá sùng đạo và chẳng có hậu quả gì cho tương lai! Nhưng không phải thế. Xưng tội trước tiên là một hành vi thống hối. Bạn tự xưng thú các tội lỗi và nhờ việc đền tội cùng ơn xóa tội, bạn tìm thấy trở lại tình Thân Hữu với Thiên Chúa, Tình Yêu mà bạn không bao giờ mất.. Bí tích Giải Tội bắt buộc chúng ta nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi. Phải, con người thật là kẻ bé mọn trước mặt Chúa. Và chính trong tội lỗi, trong lầm lạc của bạn mà bạn có thể tìm được đức khiêm tốn, lòng khoan hồng với người khác. Thật thế, bí tích Giải Tội không làm cho con người phải xấu hổ nhục nhã. Trái lại, bí tích Giải Tội trao ban sức mạnh và niềm hy vọng”.

Niềm ước muốn sâu xa nhất của tôi là được trông thấy cảnh các anh chị em tôi khi bước ra khỏi tòa giải tội, tay trong tay, cùng nhau hát chúc tụng Tình Yêu và lòng Từ Bi bao la của Thiên Chúa là Cha chúng ta.

Tôi cũng ước mong được nghe các vị chủ chăn: giám mục và linh mục, giải thích, trình bày, nhắc nhở và khuyên nhủ các tín hữu hãy thường xuyên lãnh nhận bí tích Giải Tội, chứ không phải chỉ xưng tội một năm ít là một lần trong Mùa Chay mà thôi!

Tôi cũng ao ước trông thấy các bậc phụ huynh, các giáo lý viên, giảng giải về lòng Từ Bi của Thiên Chúa cho con em nghe để chúng cũng sớm có thói quen lành thánh là đi xưng thú tội lỗi và ăn năn thống hối vì đã phạm tội mất lòng Chúa. Những người trưởng thành không được phép quên bổn phận phải dạy cho con em cách thức xưng tội và lãnh nhận ơn hòa giải, tha thứ.

Tôi xin phép kết thúc chứng từ về việc lãnh nhận bí tích Giải Tội bằng một tâm tình dâng lên Trinh Nữ MARIA và mời gọi mọi người hãy đặt trọn lòng tin tưởng nơi Đức Mẹ. Thật vậy, sau khi lãnh nhận phép tha tội và tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ, có nghĩa là tôi gửi trọn tương lai cuộc đời tôi trong Trái Tim Từ Mẫu Mẹ. Tìm nương ẩn nơi Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ tôi sẽ được Mẹ che chở phù trì và dẫn đi trên mọi nẻo đường cuộc sống, dù có gặp chông gai thử thách, tôi vẫn không nao núng.

Trong lòng tin tưởng nơi sự trợ giúp của Đức Mẹ và trong vòng tay dấu ái của Chúa GIÊSU KITÔ, chúng ta tìm thấy con đường đưa tới bí tích Giải Tội, nơi Con Chiên Thiên Chúa đang chờ đón để ban ơn tha thứ cho chúng ta. Nhờ đó, chúng ta có thể cất cao tiếng hát cảm tạ ngợi khen lòng nhân từ thương xót vô biên của Thiên Chúa.

... Cha Paul Bertrand là linh mục thừa sai người Pháp tại Cộng hòa Trung Phi. Ngày mới đến đây, cha phải một mình chăm sóc cho nhiều bộ lạc khác nhau. Tại bộ lạc đầu tiên, cha dạy giáo lý và chuẩn bị cho một cậu bé tên Gioan rước lễ lần đầu. Sau đó, cha phải lên đường sang bộ lạc thứ hai, thứ ba .. Một năm trôi qua, cha trở lại thăm bộ lạc thứ nhất. Được tin, cậu Gioan vui mừng chạy đến chào thăm cha. Cậu thưa: “Xin cha cho con rước Chúa GIÊSU nữa đi!” Cha Paul âu yếm trả lời: “Được, cha sẽ cho con rước Chúa. Nhưng con phải xưng tội trước đã. Một năm qua, ai biết được là con đã phạm những tội nào!” Cậu Gioan ngạc nhiên hỏi: “Cha nói sao? Tội lỗi gì? Người ta còn có thể phạm tội, sau khi đã rước Chúa GIÊSU vào lòng sao? Phần con, nhờ ơn Chúa GIÊSU, từ ngày rước lễ lần đầu đến nay, con không hề phạm một tội nào hết!”

... Vào buổi chiều sau một trận đánh dữ dội trong thời thế chiến thứ nhất 1914-1918, các linh mục tuyên úy cùng với các y tá đi vòng quanh bãi chiến để chăm sóc người hấp hối, kẻ bị thương và để khiêng xác các quân nhân tử trận.

Gần một bụi rậm, vị linh mục tuyên úy Công Giáo quỳ cạnh một người lính trẻ. Đôi mắt anh mở lớn nhìn trời cao. Không thấy vết thương cũng không thấy máu chảy, cha tuyên úy nhẹ nhàng hỏi: “Con bị thương ở đâu?” Người lính đáp: “Ở sau lưng”. Cha tuyên úy hỏi tiếp: “Con có muốn xưng tội không?” Người lính trả lời: “Không, con mới xưng hồi sáng này. Bây giờ con chỉ ước ao rước lễ lần cuối thôi!” Cha tuyên úy cẩn trọng mở cái túi cha mang trước ngực, lấy Mình Thánh Chúa và trao cho người thương binh đang hấp hối. Chịu lễ xong, người lính trẻ thều thào: “Thưa cha, bây giờ con không còn sức để cám ơn, con sẽ làm khi về trời. Tuy nhiên, con có một điều muốn nhờ cha giúp. Xin cha làm ơn mở túi áo khoác ngoài của con, lấy cái giây lụa trắng. Đây là giây lụa mẹ con cột quanh cây nến con cầm ngày con chịu lễ lần đầu. Từ ngày đó, con luôn mang nó theo mình và tự hứa sẽ không bao giờ phạm một tội trọng nào làm mất lòng Chúa. Xin cha làm ơn trao lại giây lụa này cho mẹ con và nhắn với mẹ con rằng: Con gửi lời vĩnh biệt mẹ con lần cuối cùng!”

Cha tuyên úy cảm động nhận lời. Cha nhẹ nhàng luồn tay dưới ót, đỡ đầu người lính trẻ. Anh sung sướng mĩm cười nói nhỏ: “Bây giờ thì con có thể ngủ yên như khi con còn ở nhà với mẹ con!”. Nói rồi, anh nghiêng đầu xuống và êm ái trút hơi thở cuối cùng..


VIII. TÔI TIN SỰ SỐNG ĐỜI SAU.

1. TÔI TIN PHÁN XÉT RIÊNG.

... Câu chuyện sau đây được ghi trong niên sử dòng Đa Minh, xuất bản tại Lyon, miền Bắc nước Pháp, tháng 3 năm 1883.

Thánh Pietro-di-Jérémia (1381-1452) sinh tại Palermo, miền Nam nước Ý, trong một gia đình vừa thánh thiện vừa quý phái. Có thể nói, mẹ ngài đã truyền cho ngài lòng đạo đức, kính sợ Thiên Chúa, qua dòng sữa ngọt bà cho con bú. Năm 18 tuổi, Phêrô rời Palermo để tiếp tục học luật tại Bologna. Học xong, Phêrô chuẩn bị trình luận án tiến sĩ luật học.

Một đêm đang ngon giấc, Phêrô bỗng giật mình vì có tiếng đập mạnh nơi cửa sổ. Tự nhiên anh cảm thấy rợn tóc gáy. Cửa sổ phòng anh nằm ở lầu ba, nên không thể có chuyện trộm đến thăm nhà ban đêm. Đang phân vân tự hỏi không biết tiếng động từ đâu tới thì Phêrô lại nghe tiếng đập cửa dồn dập nổi lên và càng lúc càng mạnh. Anh nằm im chết điếng. Máu như động lại. Không dám rời khỏi giường, Phêrô run rẩy hỏi: “Ai đập cửa đó?” Tức thì một giọng ai oán đáp lại: “Anh Phêrô ơi, tôi là người bà con của anh đây. Sau khi lãnh xong văn bằng tiến sĩ luật, tôi bắt đầu hành nghề. Nhưng khốn cho tôi, thay vì hành nghề một cách lương thiện, tôi đã hành nghề một cách bất chính để kiếm cho được nhiều tiền và mong gặt được nhiều tiếng tăm, bất chấp mọi cắn rứt của lương tâm. Thế rồi tôi chết. Trước tòa án công thẳng của Thiên Chúa, không có một luật sư nào biện hộ cho tôi cả và tôi đã bị kết án chịu khổ hình hỏa ngục đời đời, kiếp kiếp.. Thiên Chúa sai tôi đến báo nguy cho anh biết: anh hãy tìm cách trốn khỏi tòa án loài người, nếu anh muốn được xử trắng án trước tòa án Thiên Chúa!” Nghe xong, Phêrô toát mồ hôi lạnh, vô cùng kinh khiếp. Anh suy nghĩ và tự nhủ: “Mình đành chịu mất linh hồn và mất hạnh phúc vĩnh cửu vì những lợi lộc chóng qua, những danh vọng bèo bọt và những thú vui tạm bợ, giả dối của đời này sao?” Ngay từ giây phút đó, Phêrô tự nguyện sẽ dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và tự thề hứa sẽ giữ đức trinh khiết cho đến chết.

Sau khi tha thiết cầu xin Chúa cho biết phải vào tu trong dòng nào, Phêrô được thúc đẩy vào dòng Anh Em Thuyết Giáo của thánh Đa-Minh. Anh liền làm theo ơn soi sáng. Đó là năm 1400. Phêrô-di-Jérémia hay Phêrô-di-Palermo đã trở thành một vị đại thánh, một vị giảng thuyết tài ba và một nhà thần học lỗi lạc...

2. TÔI TIN CÓ HỎA NGỤC.

Chị Luxia là một trong ba trẻ chăn chiên được diễm phúc trông thấy Đức Mẹ hiện ra vào năm 1917 tại Fatima bên Bồ Đào Nha. Chị là người duy nhất còn sống và hiện là nữ tu dòng Kín. Chị sinh ngày 22-3-1907. Hai trẻ kia là Phanxicô Marto (1908-1919), qua đời ngày 4-4-1919 và Giaxinta Marto (1910-1920) qua đời ngày 20-2-1920. Hai anh em Phanxicô và Giaxinta Marto đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 tôn phong chân phước tại Fatima ngày 13-5-2000.

Ngày 26-7-1941, Đức Cha José Alves Correia da Silva, Giám mục Fatima, viết thư cho chị Luxia, truyền chị ghi lại tất cả những gì chị biết và nhớ, liên quan đến cuộc đời của bé Giaxinta. Đây là lý do khiến chị Luxia đề cập lần đầu tiên đến hai trong ba bí mật Fatima. Chị Luxia viết:

Kính thưa Đức Cha,

Qua lệnh Đức Cha, con thấy là chính Chúa nói với con, và đây là lúc thuận tiện để trả lời cho hai câu hỏi mà nhiều lần người ta hỏi con và con thường tránh không trả lời.

Theo con thì hình như Chúa và Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ MARIA sẽ được hài lòng, nếu trong cuốn sách viết về Giaxinta, người ta thêm vào một chương nói về hỏa ngục và một chương nói về Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA.

Hẳn Đức Cha sẽ cho là ý kiến này đi ngoài đề. Nhưng thật ra đó không phải là đề nghị của riêng con, nhưng là để làm vinh danh Chúa và vì lợi ích các linh hồn. Và vì thế, đây là lúc con được phép Trời Cao tiết lộ hai phần đầu của bí mật Fatima.

Bí mật thứ nhất liên quan đến việc trông thấy hỏa ngục. Đức Mẹ cho chúng con thấy một đại dương rực lửa, như ở trong lòng đất. Bơi lội trong biển lửa này là các quỷ dữ và các linh hồn bị trầm luân. Các linh hồn giống như các cục than hồng trong suốt, màu đen hay màu đồng, và có hình người. Các linh hồn trầm luân bơi lội trong biển lửa rực cháy này, bị các ngọn lửa hất tung lên cao, bắn ra tứ phía, rồi lại rơi xuống lả-chả như những vật không có trọng lượng và mất thăng bằng, giữa những tiếng kêu gào, rên siết đau đớn và thất vọng, nghe thật khủng khiếp và làm cho kinh hãi run sợ. Các quỷ dữ thì khác với các linh hồn, vì giống hình thù quái dị và ghê tởm của những con vật kỳ lạ, nhưng trong suốt và đen như than. Cuộc trông thấy hỏa ngục chỉ diễn ra trong chốc lát, nhờ lòng từ mẫu của Mẹ Thiên Quốc, ngay từ buổi hiện ra đầu tiên đã hứa là sẽ mang chúng con lên Thiên Đàng, nếu không, hẳn là chúng con sẽ phải chết vì kinh khiếp và sợ hãi.

Liền đó, chúng con ngước mắt nhìn Đức Mẹ. Đức Mẹ nhân từ và buồn bã nói với chúng con: “Các con đã trông thấy hỏa ngục, nơi các linh hồn tội lỗi bị rơi vào. Để cứu thoát các linh hồn, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ. Nếu người ta thi hành những điều Mẹ sắp nói với các con đây, thì có nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và người ta sẽ được hưởng thanh bình. Chiến tranh sắp chấm dứt. Nhưng nếu người ta cứ tiếp tục xúc phạm đến Chúa, thì dưới thời Đức Giáo Hoàng Pio 11, một cuộc chiến khác, tàn khốc hơn, sẽ bắt đầu. Khi nào các con trông thấy một đêm tối được chiếu soi bằng một luồng sáng khác thường, các con hiểu rằng, đó là dấu chỉ Thiên Chúa sắp trừng phạt thế giới vì những tội ác, bằng chiến tranh, đói khát và cuộc bách hại chống lại Giáo Hội và Đức Thánh Cha. Để ngăn chặn cuộc chiến này, Mẹ sẽ đến xin dâng nước Nga cho Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ và rước lễ đền tạ các Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu người ta nghe lời Mẹ xin, nước Nga sẽ trở lại và người ta sẽ được hưởng thanh bình. Nếu không, nước Nga sẽ gieo rắc lầm lạc khắp thế giới, gây ra chiến tranh và bách hại chống Giáo Hội. Những người lành bị giết chết, Đức Thánh Cha phải đau khổ, nhiều quốc gia bị tiêu diệt. Sau cùng, Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng nước Nga cho Mẹ. Nước Nga sẽ trở lại và thế giới sẽ được hưởng một thời gian thanh bình”...

Thưa Đức Cha, đã có lần con viết cho Đức Cha là em Giaxinta thật sự kinh hãi khi được trông thấy HỎA NGỤC, đến nỗi, mọi hãm mình và chay tịnh mà em làm để cứu vài linh hồn khỏi sa HỎA NGỤC, em cho là quá ít ỏi.. Do đó, con xin trả lời cho thắc mắc: “Làm sao em Giaxinta còn nhỏ như vậy mà lại có được tinh thần hãm mình chay tịnh và hiểu được giá trị các việc lành khổ chế này?”

Con xin thưa: “Theo con thì hình như em Giaxinta nhận được ơn đặc biệt Chúa ban qua trung gian Khiết Tâm Đức Mẹ. Nhưng một phần cũng vì em được trông thấy HỎA NGỤC và sự khốn khổ của các linh hồn bị rơi vào đó”.

Nhiều người dù có tiếng là đạo đức nhưng vẫn không muốn nói với con cái về HỎA NGỤC, vì sợ làm cho chúng kinh khiếp. Nhưng Thiên Chúa đã không do dự tỏ lộ HỎA NGỤC cho ba đứa trẻ, mà đứa nhỏ nhất mới 6 tuổi, và Chúa lại biết rõ là bé Giaxinta sẽ kinh hoàng đến chết lịm đi, con gần như có thể cả quyết như vậy!

Giaxinta thường ngồi bệt dưới đất hoặc trên vài hòn đá, đáng điệu tư lự, rồi em cất tiếng nói: : “Ôi hỏa ngục! Ôi hỏa ngục! Trời ơi, em rất tội nghiệp những linh hồn bị rơi vào hỏa ngục. Những người ở trong hỏa ngục bị thiêu sống như củi cháy trong lửa!” Rồi vừa run lẩy bẩy vừa quỳ gối xuống, đôi tay chắp lại, em đọc lời nguyện Đức Bà dạy chúng con:

“Lạy Chúa GIÊSU! Xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục. Xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn”.

Giaxinta cứ quỳ gối như thế thật lâu và lập đi lập lại lời kinh Đức Bà dạy chúng con. Thỉnh thoảng, em lại gọi con hoặc gọi Phanxicô, và như vừa ra khỏi cơn ác mộng, em nói: “Phanxicô! Anh có cầu nguyện với em không? Phải cầu nguyện thật nhiều để các linh hồn khỏi bị rơi vào hỏa ngục! Có quá nhiều linh hồn bị rơi vào đó! Quá nhiều!”

Nhiều lần khác em hỏi con: “Sao Đức Bà không cho những người tội lỗi trông thấy hỏa ngục? Nếu họ thấy, chắc chắn họ không phạm tội nữa để khỏi bị rơi vào hỏa ngục. Chị phải xin Đức Bà cho những người đến (Cova da Iria) đây trông thấy hỏa ngục. Rồi chị sẽ thấy là họ sẽ ăn năn trở lại hết!”

Thỉnh thoảng Giaxinta hỏi con: “Người ta phạm những thứ tội nào để bị rơi xuống hỏa ngục như thế?” Con trả lời: “Chị không biết nữa!”.

Thưa Đức Cha, viết đến đây con nhớ rằng, nhiều người cũng thường hỏi con là thứ tội nào xúc phạm đến Chúa nhiều nhất? Đó cũng là thắc mắc thường dằn vặt Giaxinta, nên có lẽ lúc bị bệnh nằm ở nhà thương Lisboa, Giaxinta đã hỏi Đức Mẹ và được Đức Mẹ cho biết: “Tội phạm về xác thịt!”

3. TÔI TIN CÓ SỰ SỐNG ĐỜI SAU.

Từ 1952-1971, ông Biển-Đức Ko-Chung-Yeol, lần lượt làm nhân viên canh tù, thư ký văn phòng giám đốc nhà tù và sau cùng, làm việc nơi ban tôn giáo, chăm sóc tinh thần cho các tù nhân. Trong 20 năm, ông Ko có dịp chứng kiến tận mắt khoảng 200 tù nhân bị hành quyết tại Séoul, thủ đô Nam Hàn. Chính ông kể lại vài cái chết lành thánh của các tử tội. Ông viết:

Trong số .00 tử tội, có ít nhất 90% xin trở lại Công Giáo, Tin Lành hay Phật Giáo. Từ đó, họ thật tình ăn năn thống hối và chấp nhận cái chết trong an bình.

.. Tôi còn nhớ như in hình ảnh tù nhân tên Tho-Iryong. Anh bị kết án tử vì đủ thứ tội: hiếp dâm, trộm cướp có vũ khí và giết chết một đôi tình nhân ở Taegu, Nam Hàn. Khi bị bắt, anh thú nhận: sỡ dĩ anh giết đôi tình nhân này, chỉ vì một cơn ghen vô cớ. Khi trông thấy cảnh đôi tình nhân âu yếm nắm tay nhau dạo chơi, lòng anh bỗng dâng lên cơn ghen tột độ. Và anh giết họ. Thế thôi. Thân xác anh vạm vở và diện mạo anh vô cùng hung dữ. Anh không biết đọc cũng không biết viết.

Tôi bắt đầu dạy anh Tho-Iryong đọc và viết. Khi anh biết đọc rồi, tôi trao cho anh cuốn sách của cha Pak-To-Sik, tựa đề “Con người, sinh ra để làm gì?”. Thỉnh thoảng, trong những lần gặp gỡ chuyện trò, tôi nói với anh về giáo lý đạo Công Giáo. Cho đến một ngày, khi hoàn toàn xác tín về sự hiện hữu của Thiên Chúa và cuộc sống đời sau, anh xin lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Anh chọn tên thánh là GIUSE.

Trước khi bị xử tử, theo luật, người ta hỏi anh có muốn trối trăn gì không, anh thì thào: “Cho dầu có đến 6 cái miệng, mà một tên trọng tội như tôi, cũng chẳng có gì để nói. Tôi thật vô cùng xấu hổ vì phải từ giã cõi đời, khi chưa đền bù cân xứng những tội tày trời tôi đã phạm!” Sau đó, anh xưng tội và rước lễ lần cuối cùng. Rồi anh cùng vị linh mục Công Giáo, sốt sắng đọc kinh LẠY CHA. Anh ra đi trong an bình thánh thiện. Từ một con sư tử hung dữ, anh trở nên con chiên hiền lành. Xác anh được an nghỉ nơi nghĩa trang Công Giáo.

.. Năm 1964, tội nhân Kim-Oan-Son bị kết án tử hình vì đã dùng rìu giết chết trọn một gia đình. Trái với anh Tho-Iryong, anh Kim-Oan-Son có thân hình nhỏ bé và biết chữ. Nhờ biết đọc, anh có thể đọc sách báo Công Giáo. Tuy nhiên, ngay khi bị đưa ra xét xử, anh một mực đòi bị treo cổ tức khắc. Sau đó, khi đã theo đạo Công Giáo, anh ước ao dùng thời giờ còn lại để làm những công việc thật nặng nề, hầu có thể đền bù phần nào các tội anh đã xúc phạm đến Thiên Chúa và đến xã hội loài người! Anh thường lo lắng hỏi: “Không biết Thiên Chúa Nhân Từ có bằng lòng tiếp nhận con, khi mà con chưa chịu đau khổ đủ, chưa đền bù cân xứng với những tội trọng con đã phạm?” Tôi giải thích cho anh biết: “Chắc chắn Chúa GIÊSU sẽ vui lòng tiếp nhận anh, chỉ cần anh biết yêu thương và giúp đỡ các bạn đồng tù”. Kể từ ngày đó, anh Kim không bỏ sót một cơ hội nào mà không mau mắn giúp đỡ các bạn tù.

Một hôm, nhân dịp phải trực đêm, tôi đi một vòng kiểm soát các tù nhân. Khi đến phòng anh Kim, tôi thấy anh vẫn còn thức. Anh tươi cười giải thích với tôi. (Anh vẫn âu yếm gọi tôi là Ba đỡ đầu). Anh nói: “Ba biết không, ban ngày, vì sự có mặt của các bạn tù và vì bầu khí ồn ào nên con không cầm trí cầu nguyện được. Thường con chỉ đọc được một vài lời nguyện tắt. Vì thế, con lợi dụng bầu khí tĩnh mịch của đêm khuya để chuyện trò cùng Chúa GIÊSU KITÔ và ĐỨC MẸ”.

Đúng ngày xử, anh Kim-Oan-Son sốt sắng xưng tội và rước lễ lần cuối cùng. Khi trông thấy tôi, anh nói: “Tạm biệt Ba. Con ra đi trước gặp Chúa”. Sau lời chào này, anh chỉ còn thầm thì duy nhất hai danh thánh GIÊSU-MARIA. Anh vĩnh biệt cõi đời trong an bình thánh thiện.

.. Vào năm 1962, tù nhân Han-Tong-Ou bị kết án tử. Anh bị kết án vì tội sát nhân. Theo lời anh tự khai, tôi hiểu là anh đã không cố ý phạm tội giết người. Nhưng theo luật lệ Triều Tiên, anh vẫn bị kết án tử hình. Trên đường tiến ra nơi xử, anh trao cho nhân viên cảnh sát áp giải anh một bức thư, nhờ chuyển lại cho tôi. Đó là bức thư anh viết cho hai người em gái. Nguyên văn bức thư như sau:

Hai em Tong-Rye và Tong-Soon yêu quý,

Thật ra anh có nhiều điều để nói với hai em, nhưng làm sao viết ra hết trên tờ giấy nhỏ bé, tất cả tâm tình dạt dào như đại dương anh cảm nghiệm trong lúc này? Tha thứ cho anh, anh thật vô cùng ân hận vì đi về thế giới bên kia khi chưa chu toàn nghĩa vụ người anh cả. Anh kinh hoàng với ý nghĩ: từ nay hai em sống trong đơn côi. Nhưng, Thiên Chúa, trong lòng từ bi vô biên của Ngài, không muốn để cho ba anh em chúng ta phải vĩnh viễn sống xa lìa đối nghịch nhau. Chính Thiên Chúa gọi anh vào Thiên Giới Ngài, vì thế hai em đừng than khóc cho cái chết của anh. Hai em đừng để mình rơi vào tuyệt vọng, nhưng với can đảm và tin tưởng, hãy bám chặt vào Thiên Chúa bằng những lời nguyện cầu tha thiết. Anh xác tín rằng, với sự trợ giúp của ơn thánh, hai em sẽ nếm hưởng sự bình an trong tâm lòng.

Thật ra cái chết của anh không phải là cùng tận, nhưng là con đường đưa đến cuộc sống vĩnh cửu. Đời một người ở trần gian này kéo dài trong bao lâu? Niềm vui thú của danh dự và của cải cũng chỉ kéo dài trong một thời gian! Cuộc đời đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa mới là cuộc đời đáng sống! Nếu trước đây anh sớm được biết Chúa, hẳn là anh đã không bị rơi vào cạm bẫy của tội lỗi tầy đình này. Nhưng trong lòng nhân hậu bao la, Thiên Chúa đã không bỏ rơi anh.

Riêng anh, anh thật lòng thống hối mọi tội anh đã phạm và với lời cầu nguyện tha thiết dâng lên Chúa, anh trở thành người con cưng của Chúa. Anh ra đi khi tuổi đời còn trẻ, trong cái nhục nhã của một tên trọng tội bị người đời cười chê, nhưng tâm hồn anh bình an vì anh xác tín rằng, Thiên Chúa yêu thương anh và sự Quan Phòng của Ngài đã điều khiển tất cả.

Anh tha thiết xin hai em hãy hiểu cho kỹ ý nghĩa từng lời anh nói và ghi khắc trong lòng rồi đem ra thực hành ba điều sau đây:

- Thứ nhất, bằng mọi giá, hai em phải tuyệt đối tin vào Thiên Chúa.

- Thứ hai, hãy tôn kính Bác Biển-Đức Ko-Chung-Yeol, giống y như người ta tôn kính cha mẹ mình, vì Bác là người chuyển di chúc tinh thần của anh cho hai em.

- Thứ ba, suốt đời, hai em hãy trọn lòng yêu mến và cẩn trọng gìn giữ Cây THÁNH GIÁ mà anh nhờ người chuyển lại cho hai em. Hai em hãy nhìn lên THÁNH GIÁ mỗi khi hai em nghĩ đến anh. Với niềm hy vọng gặp lại hai em trên THIÊN ĐÀNG, một lần nữa, anh tha thiết xin hai em hãy đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa.

Xem kìa, hai em yêu quý, bầu trời thật trong xanh. Vậy, mỗi lần hai em thương nhớ anh, hãy ngước mắt nhìn trời cao. Giờ đây, bình an chiếm trọn tâm hồn anh.

Anh Phaolo HAN của hai em, người đã từng là kẻ đại tội.

4. TÔI TIN CÓ THIÊN ĐÀNG.

Thánh Domenico Savio (1842-1857) là học trò của thánh Gioan Bosco (1812-1888). Savio sinh tại thành phố San Giovanni di Riva, gần Chieri, Đông Bắc nước Ý và qua đời năm 15 tuổi. Năm 1954, tức gần đúng 100 năm sau, Domenico Savio được Đức Giáo Hoàng Pio 12 (1939-1958) tôn phong hiển thánh.

Khi rước lễ lần đầu năm 7 tuổi, Savio đã vạch chương trình sống thánh thiện như sau:
- Con sẽ thường xuyên xưng tội và rước lễ, mỗi khi cha giải tội cho phép.
- Con muốn thánh hóa mọi ngày lễ trọng.
- Bạn hữu con sẽ là CHÚA GIÊSU và Mẹ MARIA.
- Thà chết chứ không thà phạm tội.

Một ít lâu sau khi qua đời, Domenico Savio hiện về với cha Gioan Bosco. Chính cha Gioan Bosco kể lại cho các bạn trẻ và các bề trên của hội dòng nghe như sau.

Lúc đó tôi ở Lanzo và đang ở trong phòng. Bỗng chốc tôi thấy mình được đưa lên một ngọn đồi. Tôi thấy chung quanh mình một quang cảnh bao la bát ngát, có hồ lớn và có vườn rộng. Trong vườn có cây, trái và hoa thật đẹp. Tất cả đều hòa điệu và tuyệt vời.

Trong lúc đang chiêm ngắm phong cảnh tuyệt đẹp như thế, tai tôi bỗng nghe một thứ âm nhạc dịu dàng, như được đánh lên bởi hàng trăm ngàn nhạc cụ khác nhau. Hòa với tiếng nhạc là tiếng ca thánh thót của một ca đoàn đông đảo vô kể.

Còn đang ngây ngất trước các lời ca tiếng hát và tiếng đàn như thế, tôi bỗng trông thấy một đoàn đông vô kể các bạn trẻ, đi về phía tôi. Dẫn đầu đoàn trẻ này là Domenico Savio. Khi đến gần tôi khoảng 8-10 bước, đoàn người trẻ ngừng lại. Ngay lúc đó, một đèn sáng được bật lên và mọi tiếng hát tiếng đàn ngưng lại. Tất cả trở thành im lặng như tờ. Rồi một mình Domenico Savio tiến thêm vài bước nữa và đứng lại, gần bên tôi. Cậu thiếu niên trông tuyệt đẹp. Áo cậu mặc trông thật lạ. Savio mặc chiếc áo trắng tinh, phủ tới gót chân. Chiếc áo được trang hoàng bằng kim cương và gắn những sợi dây bằng vàng. Nơi cổ mang dây chuyền kết bằng những loại hoa chưa bao giờ thấy, gần giống như kim cương. Trên đầu, đội một vòng hoa hồng. Mái tóc vàng óng ả phủ xuống bờ vai khiến cậu thiếu niên trông thật dễ thương, thật mĩ miều và đẹp như một vị thiên thần.

Tôi kinh ngạc đến độ không thốt nên lời nào. Thấy vậy, Domenico cất tiếng nói: “Sao cha đứng im và tỏ ra kinh hãi như thế?” Tôi trả lời: “Vì cha không biết nói gì. Nhưng con có phải là Domenico Savio không?” Savio trả lời: “Chính con đây! Cha không nhận ra con sao?” Tôi hỏi: “Nhưng sao con lại ở đây?” Savio đáp: “Con đến để nói chuyện với cha. Cha hỏi con vài điều đi!” Tôi liền hỏi: “Quang cảnh tuyệt đẹp mà cha trông thấy đây có phải là cảnh thiên nhiên không?” Savio trả lời: “Đúng thế, nhưng nó được bàn tay vạn năng của Chúa làm cho đẹp gấp ngàn lần”. Tôi liền nói: “Đối với cha thì quang cảnh này giống THIÊN ĐÀNG quá!” Savio liền kêu lên: “THIÊN ĐÀNG không giống như vậy đâu cha, vì mắt trần không thể nào chiêm ngắm được vẻ đẹp thiên quốc!” Tôi liền hỏi: “Thế thì các con vui hưởng gì nơi THIÊN ĐÀNG?” Savio đáp: “Giải thích cho cha hiểu là chuyện không thể được. Một người còn xác phàm không thể nào hiểu được thế nào là THIÊN ĐÀNG, bao lâu người đó vẫn còn sống và chưa được kết hiệp mật thiết với Đấng Tạo Hóa của mình”. Tôi hỏi câu cuối: “Vậy thì, Savio yêu dấu ơi, con hãy nói cho cha biết điều gì an ủi con nhất, lúc con sắp trút hơi thở sau cùng?” Domenico Savio trả lời:

- Điều an ủi con nhất lúc con sắp chết là nhận được sự trợ giúp vạn năng và khả ái của Đức MARIA Chí Thánh, Mẹ Đấng Cứu Thế. Xin cha nhớ nói với những người trẻ rằng: Đừng bao giờ quên kêu cầu cùng Mẹ MARIA, bao lâu họ còn sống trên trần gian.

5. ĐỨC BÀ LÀ CỬA THIÊN ĐÀNG.

Chị Luxia viết cho Đức Cha José Alves Correia da Silva, Giám mục Fatima:

Trọng kính Đức cha, con đã tiết lộ phần thứ nhất của bí mật, liên quan đến hỏa ngục. Phần thứ hai liên quan đến việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA.

Con đã viết cho Đức cha là, trong cuộc hiện ra ngày 13-6-1917, Đức Mẹ nói với con rằng, Đức Mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi con và Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ sẽ là nơi trú ẩn và là con đường dẫn con đến cùng Thiên Chúa. Trong khi nói mấy lời này, Đức Mẹ mở rộng hai tay và làm cho ánh sáng phản chiếu từ Mẹ xuyên thấu vào trái tim chúng con. Theo con thì hình như ngày hôm đó, ánh sáng phản chiếu này có mục đích chính là đặt vào lòng chúng con sự hiểu biết và lòng yêu mến đặc biệt Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA...

Kể từ ngày đó, chúng con cảm thấy trong lòng chúng con nẩy sinh một tình mến yêu nồng nhiệt hơn đối với Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA.. Đức Mẹ cũng nói với chúng con rằng: Thiên Chúa muốn thiết lập trong thế giới lòng sùng kính Khiết Tâm Đức Mẹ và, để ngăn chặn chiến tranh xảy ra, Đức Mẹ sẽ đến xin dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ và việc Rước Lễ Đền Tạ vào những ngày Thứ Bảy Đầu Tháng.

Giaxinta thường hồn nhiên nói với con: “Em rất yêu mến Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA. Đó là Trái Tim của Mẹ Thiên quốc”.. Rồi em vừa hái hoa vừa ngâm nga hát theo một điệu tự em đặt ra: “Lạy Trái Tim dịu hiền Mẹ MARIA, xin hãy cứu con! Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA, xin cho những người tội lỗi được ăn năn trở lại và xin cứu các linh hồn khỏi sa hỏa ngục!”.
Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA là cửa đưa dẫn mọi người vào Thiên Đàng. Hãy yêu mến, sùng kính và đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ MARIA ...