KINH LẠY CHA

Biên Soạn : Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt


I. LẠY CHA CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI

Lạy CHA chúng con ở trên Trời Chúng con nguyện danh CHA cả sáng Nước CHA trị đến Ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Xin CHA cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

Đây là Lời Kinh do chính CHÚA GIÊSU dạy. CHÚA GIÊSU như phán cùng các Tông Đồ rằng: “Bấy nhiêu đó đã đủ. Không cần thêm điều gì khác. Trong kinh Lạy CHA gói trọn những gì cần thiết cho con người về tinh thần, thể xác và máu huyết. Với kinh Lạy CHA, các con hãy cầu xin những gì hữu ích hoặc cho tinh thần hoặc cho thể xác. Nếu các con thực thi mọi điều các con cầu xin, các con sẽ chiếm được cuộc sống vĩnh cửu. Lời Kinh trọn hảo đến độ, các trào lưu lạc giáo cũng như các dòng thời gian, vẫn không thể nào làm tổn hại được. Kitô-Giáo sẽ bị Satan xâu xé và nhiều thành phần của nhiệm-thể Thầy sẽ bị tách rời, bị phân ly, làm thành những tế bào với ước muốn hão huyền là tự tạo nên một thân thể hoàn hảo giống như Nhiệm-Thể của Đức KITÔ. Nhưng không thể nào được như vậy. Bởi vì, Nhiệm-Thể của Đức KITÔ hợp thành bởi tất cả các tín hữu hiệp nhất trong Giáo Hội tông-truyền, sẽ là Giáo Hội duy-nhất chân-thật mãi cho đến ngày tận thế. Tuy nhiên, các đoàn chiên nhỏ bị phân tán này - không được tận hưởng mọi ân lành do Thầy để lại nơi Giáo Hội Mẹ để nuôi dưỡng đàn con - vẫn luôn luôn được gọi là các Giáo Hội Kitô. Lý do: họ cùng tôn thờ Đức KITÔ - và ngay giữa những lầm lạc của họ - họ vẫn luôn luôn ghi nhớ họ đến từ Đức KITÔ. Vì thế, cả họ nữa, họ cũng sẽ cầu nguyện với Lời Kinh Lạy CHA đại đồng này. Các con hãy nhớ kỹ điều đó. Các con hãy liên lĩ suy niệm lời kinh Lạy CHA. Các con hãy đem Lời Kinh áp dụng vào cuộc sống thường ngày, trong mọi hành động của các con. Không cần phải tìm kiếm điều gì khác để nên thánh. Nếu kẻ nào đơn độc một mình giữa một môi trường ngoại giáo, không nhà thờ, không sách báo, người đó vẫn có thể biết được nhiều sự khi suy gẫm kinh Lạy CHA và trong trái tim kẻ ấy, một ngôi thánh đường mở ra để người đó có thể đọc kinh Lạy CHA. Bấy nhiêu đó đủ để người ấy có quy luật để sống và để nên thánh”..

1. LẠY CHA CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI

Trong kinh TIN KÍNH, tín hữu tuyên xưng: Tôi tin kính một Thiên Chúa là CHA Toàn Năng .. Tôi tin kính một CHÚA GIÊSU KITÔ, CON Một Thiên Chúa.. / Tôi tin kính Đức Chúa Trời là CHA phép tắc vô cùng .. Tôi tin kính Đức CHÚA GIÊSU KITÔ là CON Một Đức Chúa CHA.

Như thế, Thiên Chúa CHA trước hết là CHA của Chúa GIÊSU KITÔ. Ngài là CHA của Ngôi Lời, CHA của Đấng nhập thể làm người. Chỉ sau khi xuống thế cứu chuộc loài người, Chúa GIÊSU KITÔ mới giao hòa loài người với Thiên Chúa. Và chỉ sau khi đó, loài người mới có thể gọi Thiên Chúa là CHA, nhờ công trình cứu độ vô biên của Chúa GIÊSU KITÔ. Tác giả thư gửi tín hữu Do Thái viết: “Đức KITÔ đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai.. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức KITÔ đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa Hằng Sống” (DT 9,11+14). Chính Chúa GIÊSU KITÔ đã tái sinh con người trong Máu Thánh Ngài. Chính Ngài đã hủy diệt con người tội lỗi bằng tình yêu của Ngài và đã cầm tay con người mới - tức kitô-hữu - đến với Thiên Chúa CHA, để con người có thể kêu lên: “Lạy CHA, CHA ơi!” Còn lời nào êm dịu bằng lời kêu: “CHA ơi!” Đó là lời đầu tiên đứa trẻ bập bẹ nói: “Cha..Cha..mẹ..mẹ”. Khi con người thân thưa cùng Thiên Chúa bằng hai tiếng “Lạy CHA, CHA ơi” với trọn tình con thảo, sẽ làm vui lòng Thiên Chúa biết bao! Thiên Chúa là CHA Chí Thánh: Đấng ngự trên Trời, Đấng hằng thi ân giáng phúc cho con cái loài người.

Thiên Chúa là CHA rất mực yêu thương con người, ngay cả khi Ngài “trừng phạt” con người. Về điểm này, có lẽ nên đọc lại trọn đoạn thư gởi tín hữu Do Thái, chương 12 câu 5-11: “Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy? Nếu anh em không được sửa dạy như tất cả mọi người, thì khi đó anh em là con ngoại hôn, chứ không phải là con chính thức. Vả lại, chúng ta có cha trần thế sửa dạy mà chúng ta vẫn tôn kính, thì chúng ta lại càng phải tùng phục CHA trên TRỜI để được sống. Cha trần thế sửa dạy chúng ta trong một thời gian ngắn, và theo sở thích của mình; còn Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta, để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người. Ngay lúc bị sửa dạy, chẳng ai lấy làm vui thú mà chỉ thấy buồn phiền. Nhưng sau đó, những người chịu rèn luyện như thế sẽ gặt được hoa trái là bình an và công chính”.

Giáo huấn của tác giả thư gởi tín hữu Do Thái làm liên tưởng đến lá thư viết từ hỏa ngục bằng tiếng Đức và được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Việt. Lá thư được tìm thấy - vào đầu thập niên 1950 - trong số các di vật của Clara, một thanh nữ người Đức qua đời nơi một đan viện. Lá thư do người bạn gái cùng sở tên Annetta - tử nạn vào mùa thu năm 1937 - viết từ hỏa ngục. Xin trích thuật phần Annetta bị bắt buộc thú nhận tầm quan trọng của việc cầu nguyện và tỏ dấu tiếc vì không được Thiên Chúa trừng phạt.

“ .. Dần dần tôi tự chế tạo cho mình một thứ thiên chúa: đủ để được gọi là Thiên Chúa; ở xa xa đủ để khỏi có ràng buộc nào với Người. 'Ông thiên chúa' này không hứa cho tôi thiên đàng cũng chả có hỏa ngục khiến tôi khiếp sợ. Tôi để Ông yên và Ông cũng để tôi yên. Đó là tất cả tôn thờ tôi dành cho Ông. 'Người ta dễ tin những gì người ta thích'. Theo dòng thời gian, tôi hài lòng với thứ tôn giáo do mình tạo ra. Và như thế, tôi có thể tận hưởng cuộc đời. Chỉ có một điều có thể bẻ gãy tính ương ngạnh của tôi: một nổi đau đớn lâu dài và sâu xa.. Thế nhưng, nổi đau đớn này lại không đến! Giờ đây hẳn bạn hiểu được câu nói: "Thiên Chúa trừng phạt những kẻ Ngài thương mến!”.

“.. Tôi bị bắt buộc viết thêm rằng, Thiên Chúa nhân từ ngay cả với chúng tôi khi Ngài để cho chúng tôi chết sớm. Như thế, Ngài ngăn cản chúng tôi làm thêm nhiều sự dữ khác, chỉ tổ tăng thêm lỗi lầm và gia tăng hình phạt nặng nề!.. Tất cả những ai bị thiêu đốt trong hỏa ngục cũng đều đã không cầu nguyện, hoặc đã không cầu nguyện đủ! Cầu nguyện là bước đầu tiên dẫn đưa đến THIÊN CHÚA! Và lại luôn luôn là bước chung cục! Đặc biệt, lời cầu nguyện dâng lên Người là Mẹ của Đức KITÔ, mà ở trong hỏa ngục này, chúng tôi không bao giờ gọi đến tên! Lòng sùng kính Bà có sức giựt ra khỏi quỷ dữ không biết bao nhiêu linh hồn mà tội lỗi đã ném vào tay nó! Cầu nguyện là điều dễ làm nhất mà một người có thể làm trên trần gian. Và chính điều dễ làm này lại được Thiên Chúa dùng để cứu rỗi mỗi một người!.. Tôi không bao giờ tin nơi tác động của ma quỷ. Nhưng giờ đây tôi phải thú nhận rằng ma quỷ có một ảnh hưởng rất lớn trên những người sống trong những điều kiện giống như tôi: không cầu nguyện cũng chả hy sinh và chịu khốn khó .. ”.

Vậy thì, mỗi khi gặp thử thách, tai ương hoạn nạn, bệnh tật, con người nên chấp nhận với lòng ghi ơn Thiên Chúa nhân lành. Bởi vì, chính những đau khổ này sẽ mang đến cho con người ơn cứu rỗi đời đời..

2. THIÊN CHÚA LÀ CHA

“Tôi quỳ gối trước mặt Thiên Chúa là CHA, là nguồn gốc mọi tình phụ tử trên Trời dưới đất. Tôi nguyện xin Thiên Chúa CHA, thể theo sự phong phú của vinh quang Người, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức KITÔ ngự trong tâm hồn. Xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức KITÔ, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy, anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa (Êph 3,14-19).

Đoạn thư trên đây của thánh Phaolo tông đồ gởi tín hữu Êphêxô, nói đến tình phụ tử của Thiên Chúa CHA, đồng thời nhắc đến tác động của Chúa Thánh Linh và tình thương của Đức KITÔ. Tình thương của Đức KITÔ gồm trọn mọi kích thước dài rộng cao sâu và vượt quá sự hiểu biết của loài người. Thánh Phaolo cho thấy mầu nhiệm tình thương của một THIÊN CHÚA có ba bản vị: CHA, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi là MỘT. Vì thế, khi nói đến tình phụ tử của Thiên Chúa CHA, cũng cần phải hiểu ngầm về tình phụ tử của Thiên Chúa Con là Chúa GIÊSU KITÔ. Bởi lẽ, Chúa CHA và Chúa Con là MỘT.

Xin trích thuật vài đoạn Hồi Ký của chị Maria Antonia (1900-1939), người Ba-Tây, thuộc dòng Nữ Phanxicô Bác Ái và Đền Tạ. Chị có tên đời là Cecilia Cony. Với ngôn ngữ bình dị và trong tâm tình ngây thơ của một đứa trẻ 4 tuổi, chị Cecilia Cony nói về tình thương của Thiên Chúa CHA, CHÚA GIÊSU và Trinh Nữ MARIA như sau.

Con phải tự thuật cuộc đời con. Con xin kể lại cách đơn sơ, vì đức vâng lời và để làm vinh danh Thiên Chúa, Đấng ban phát cho con mọi ơn lành hồn xác.

Con sinh ngày 4-4-1900. Kỷ niệm thơ ấu ghi khắc trong tim bắt đầu vào năm con lên 4 tuổi. Con còn nhớ như in thành phố nhỏ nơi con sinh ra, Santa Vitoria de Palmar, căn nhà của cha mẹ, những đứa trẻ cùng nô đùa và con cũng nhớ rõ buổi chiều hôm ấy 2-2-1904, khi con ngồi chơi nơi bậc cấp ngoài sân, Ba gọi con và nói: : “Cecilia ơi, hãy đến ngay, đến xem chú bé em dễ thương mà mẹ con mang đến cho con kìa .. Đây là món quà của Chúa!”

Vào lúc đó, con đã có chút ý niệm về Thiên Chúa, ý niệm đến từ các bức tượng và tranh ảnh, nhưng không thể xóa nhòa được.

Con còn nhớ cây Thánh Giá có chân đứng, đặt trên đầu tủ, mà chị giúp việc Acacia, đã ẵm con lên và chỉ cho con xem. Con cũng nhớ khung ảnh lớn Chúa Ba Ngôi treo trong phòng của Má con và bình đựng Nước Thánh, trên đó có khắc hình Đức Mẹ Đồng Trinh.

Con biết Thiên Chúa dưới danh hiệu Người CHA Nhân Lành ngự trên Trời. Chính Ba con nói với con về Người.

Một ngày có giông tố bão bùng, ba con ngồi đọc sách nơi ghế bành, con hoảng sợ vì các cơn sấm và các làn chớp, vội chạy đến ẩn nơi hai đầu gối của người. Ba con liền nói: Con có nghe gì không? Đó là CHA Nhân Lành trên Trời buồn sầu và giận dữ, vì các trẻ em và người lớn không sống đàng hoàng. Khi các em bé ngoan ngoãn, CHA trên Trời hài lòng và Người gởi mặt trời đến soi chiếu vạn vật. Nói xong, Ba con ngồi im, và đó là tư tưởng con có về Thiên Chúa.

Từ ngày ấy cho đến khi con lên 6 tuổi, mỗi sáng thức dậy, lo lắng đầu tiên của con là xem ngày hôm ấy trời nắng hay trời mưa! Nếu trời mưa mà không có sấm chớp đi kèm thì con nghĩ: CHA Nhân Lành trên Trời buồn nhưng không giận.

Con luôn luôn tự tìm thấy nơi chính mình những lý do khiến cho CHA trên Trời buồn rầu. Chẳng hạn khi con hét lên trong lúc chải tóc. Hoặc lúc con cứng đầu đòi cho bằng được người ta phải đưa con đến xem con ngựa của Ba con. Hoặc khi con giận dỗi vào bữa ăn. Có ngày con lại ném muỗng xuống đất rồi dậm chân thình thịch .. Những ngày như thế, trời mưa và có sấm chớp kinh hoàng!

Tuy nhiên, sau những lần “dẫy-dụa” la khóc như thế, con lại hối hận vì đã làm buồn lòng CHA Nhân Lành. Con vội chạy vào phòng Má con và nhìn bức ảnh Chúa Ba Ngôi, xem Người CHA Vĩnh Cửu với bộ râu bạc trắng như tuyết, có còn buồn rầu và giận dữ không. Thế nhưng, trong vòng ba năm trời, hình như đối với con, gương mặt thánh của CHA trên Trời không bao giờ tỏ dấu giận dữ cả!

Cứ thế mà con học cách yêu mến Thiên Chúa. Con tự nhủ: CHA Nhân Lành trên Trời rất mực tốt lành và Ngài yêu thương con. Khi con sống không tử tế, Ngài không thương con, nhưng ngay khi con dốc lòng sống đàng hoàng, Ngài lại yêu thương con như trước.

Con chưa bao giờ kể lại những chuyện trên đây cho ai nghe. Con rất ít khi nghe nói về Thiên Chúa. Năm lên 6 tuổi, con vẫn chưa biết cầu nguyện. Con chỉ học cách cầu nguyện sau này nơi trường học. Tuy nhiên, con biết rõ Thiên Chúa Nhân Lành ngự trên Trời và tất cả những gì tốt đẹp trong vũ trụ đều do Ngài dựng nên.

Cho đến khi ấy, con chỉ biết CHA Nhân Lành trên Trời với bộ râu trắng như tuyết. Con chưa bao giờ nghe nói đến Người-Chịu-Đóng-Đinh. Trong trí khôn non nớt của con, con lại không thích nhìn Người ấy, bởi lẽ, con rất sợ nhìn 'Người-Đàn-Ông' mà con không quen biết đó!

Vào thời kỳ ấy, tức năm 1904, tại thành phố Santa Vitoria, có cô gái tên Gloria. Cô là hiệu trưởng trường các chị con đến học. Do đó gia đình con quen thân với cô.

Một hôm, mẹ của cô Gloria đến thăm mẹ con, đang lo lắng vì đứa em trai con bị bệnh. Tức khắc, con liền quấn quít đi theo bà này và đến ngồi trên đầu gối bà. Có một lúc, bà dẫn con đến gần cái tủ trên có cây Thánh Giá Chúa Giêsu Chịu-Đóng-Đinh. Bà hỏi con: “Đây là Ai vậy?”. Con không biết trả lời. Bà lại hỏi con có biết hình khắc trên bình đựng Nước Thánh là Ai không? Con im lặng. Nhưng khi bà hỏi về khung ảnh Chúa Ba Ngôi, con trả lời ngay: Đó là CHA Nhân Lành trên Trời.

Chỉ tay vào 'Hình-Người' trên Thánh Giá, bà giải thích: Đây là Người Anh của chúng ta, CON của CHA Nhân Lành trên Trời. Cháu, cháu tên là Cecilia. Còn Ngài, Ngài tên là GIÊSU. Ngài ngự trên Trời và chính Ngài dựng nên mọi sự tốt đẹp ở trong nhà cháu đây .. CHÚA GIÊSU phán: “Ta sẽ đưa mọi người về Trời, với điều kiện là phải sống đàng hoàng”. Nhưng loài người không muốn sống tử tế, nên thay vì lên Trời, có một số đông lại chui xuống lòng đất, nơi có ma quỷ và lửa cháy thiêu đốt người dữ. CHÚA GIÊSU vì quá tốt lành, Ngài động lòng thương xót những người muốn làm điều dữ, nên Ngài bỏ Trời xuống thế gian để khuyên mọi người sống đàng hoàng. Nhưng loài người không muốn nghe lời CHÚA GIÊSU. Họ bách hại Ngài, đưa quân lính tới bắt giam Ngài. Rồi họ giết Ngài, đóng đinh Ngài vào Thánh Giá. CHÚA GIÊSU chết, nhưng rồi Ngài sống lại và lên Trời. Nhưng vì CHÚA GIÊSU tốt lành, nên Ngài chỉ muốn điều lành cho mọi người dữ. Chúa phán: "Không sao, tất cả những ai muốn sống tử tế như bé Cecilia, Thầy sẽ đưa họ về Trời với Thầy, nơi có các Thiên Thần, bay lượn như những con bướm”.

Rồi bà cầm lấy bình đựng Nước Thánh và nói: Thanh Nữ kiều diễm này là Mẹ của CHÚA GIÊSU Nhân Lành. Mẹ cũng tốt lành y như Con của Mẹ và Mẹ đã về Trời với Ngài rồi.

Đó là bài giáo lý đầu tiên, khắc ghi vào trong trí khôn non nớt của con. Trong vòng ba năm trời, bài giáo lý trở thành kim chỉ nam hướng dẫn mọi hành động của con. Xin Thiên Chúa Nhân Lành ân thưởng cho người đàn bà đã dạy con bài giáo lý hữu dụng suốt đời này!

3. KINH LẠY CHA PHẠT TẠ CẦU CHO CÁC ĐẲNG LINH HỒN.

Câu chuyện sau đây xảy ra tại đền thánh Đức Mẹ Einsiedeln, Thụy Sĩ, vào ngày Lễ Nến 2-2-1968. Đền thánh được các tín hữu năng lui tới kính viếng, hành hương.

Nhưng ngày 2-2 năm ấy, là một ngày trong tuần và trời mùa đông thật lạnh. Đền thánh vắng vẻ không một bóng người. Bà Aloisia Lex đến đền thánh cầu nguyện cùng với mấy người bà con. Đang quỳ cầu nguyện, bỗng bà đưa mắt nhìn lên bàn thờ chính và trông thấy một nữ tu cao tuổi đang đứng đó. Nữ tu này mang y phục đan sĩ, nhưng y phục trông thật cổ xưa, như thuộc về mấy thế kỷ trước. Bà Aloisia liền tiến về phía nữ tu và được chị trao cho một tờ giấy kinh. Bà nhận lấy và lơ đãng bỏ vào túi. Cùng lúc ấy, một hiện tượng lạ lùng diễn ra. Cửa nhà thờ bỗng mở toang và bà trông thấy một đoàn ngũ tín hữu hành hương, đông vô kể, tiến vào nhà thờ. Các tín hữu mặc y phục nghèo nàn, chân đi lướt trên mặt đất, giống như những bóng ma. Đoàn tín hữu dài như bất tận, cứ tiếp tục nối đuôi nhau tiến vào nhà thờ. Trong nhà thờ, có một vị linh mục đang đứng đó và hướng dẫn cho các tín hữu biết phải đi đâu.

Trông thấy đoàn tín hữu đông vô kể, bà Aloisia tự hỏi: "Làm sao đền thánh nhỏ bé này, có thể chứa hết đoàn người hành hương đông đảo đến như thế được?” Vừa thắc mắc tự hỏi, bà vừa quay mặt đi hướng khác, trong khoảnh khắc vừa bằng thời gian thắp lên một ngọn nến. Khi nhìn lui, bà lại thấy nhà thờ trống trơn, vắng vẻ y như trước!

Kinh ngạc, bà Aloisia Lex chạy đến hỏi những người bà con. Những người này cho biết họ không trông thấy một ai, kể cả vị nữ tu cao tuổi! Bà Aloisia bối rối, không biết mình mơ hay thật. Bà cho tay vào túi và rút ra tờ giấy kinh mà vị nữ tu đã trao cho bà. Tờ giấy kinh là bằng chứng cho biết bà không mơ! Đây là lời kinh do chính CHÚA GIÊSU dạy thánh nữ Mechtilde.

Thánh nữ Mechtilde (1241-1299) người Đức. Thánh nữ được đặc ân trông thấy CHÚA GIÊSU hiện ra nhiều lần. Và một trong những lần hiện ra ấy, CHÚA GIÊSU đã dạy cho chị Kinh Lạy CHA cầu cho các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Hình. Sau đó, cứ mỗi lần đọc Kinh Lạy CHA này, thánh nữ Mechtilde trông thấy đông đảo các Linh Hồn trong Luyện Ngục được Chúa rước về Trời.

Lạy CHA chúng con ở trên Trời. Con cầu xin CHA, lạy CHA Thiên Quốc, xin CHA tha tội cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục, bởi vì các Linh Hồn đã không yêu mến CHA đủ, cũng không tôn vinh CHA cân xứng, đúng với địa vị CHA, Đấng vừa là Chúa vừa là CHA, đã vì lòng nhân lành mà nhận các Linh Hồn làm con của CHA. Trái lại, các Linh Hồn vì phạm tội mà xua đuổi CHA ra khỏi lòng họ, nơi mà CHA vẫn hằng mong muốn ở lại.
Để đền bù các lỗi phạm này, con xin dâng CHA tình yêu và lòng kính trọng mà Con CHA nhập thể, đã bày tỏ cùng CHA, suốt thời gian sống tại thế. Con cũng xin dâng CHA mọi việc hãm mình, mọi đền bù mà Con CHA đã làm và chính nhờ các việc lành này mà Con CHA tẩy xóa và chuộc đền các tội lỗi của loài người. Amen.

Chúng con nguyện danh CHA cả sáng. Con nài van CHA, lạy CHA Chí Lành, xin CHA tha tội cho các Linh Hồn nơi Luyện Hình, bởi vì các Linh Hồn đã không luôn luôn tôn vinh danh thánh CHA cách cân xứng. Các Linh Hồn đã nhiều lần gọi danh CHA cách bất cẩn và đã làm ô danh tên gọi Kitô hữu bằng đời sống bất xứng của mình.
Để đền bù tội lỗi các Linh Hồn đã phạm, con xin dâng lên CHA mọi danh dự mà Con Chí Ái CHA đã làm cho danh CHA được cả sáng, bằng lời nói và bằng việc làm, suốt trong thời gian tại thế của Con CHA. Amen.

Nước CHA trị đến. Con cầu xin CHA, lạy CHA Chí Nhân, xin CHA tha tội cho các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội, bởi vì các Linh Hồn đã không luôn luôn tìm kiếm cũng không hề ước mong cho Nước CHA trị đến, ước mong với lòng nhiệt thành và chú tâm đến Nước CHA, là Nước duy nhất nơi được an nghỉ đến muôn đời.
Để đền bù cho sự hờ hững làm việc lành của các Linh Hồn, con xin dâng lên CHA niềm mong ước dạt dào của Con Chí Thánh CHA, Ngài không ngừng cầu mong cho các Linh Hồn trong Lửa Luyện Tội được mau mau vào hưởng hạnh phúc trong Nước của Ngài. Amen.

Ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Con cầu xin CHA, lạy CHA Chí Nhân, xin CHA tha tội cho các Linh Hồn nơi Luyện Ngục, bởi vì các Linh Hồn đã không luôn luôn đặt ý muốn của họ dưới ý muốn của CHA; họ đã không chu toàn thánh ý CHA trong mọi sự và rất thường khi, họ chỉ sống và hành động theo ý muốn của họ mà thôi.
Để đền bù cho sự bất tuân của các Linh Hồn nơi Luyện Ngục, con xin dâng lên CHA sự thuần thục hoàn hảo của Trái Tim đầy tình yêu của Con Chí Thánh CHA đối với thánh ý CHA và sự tuân phục sâu xa nhất mà Con CHA bày tỏ cùng CHA, khi Con CHA vâng phục CHA cho đến chết trên Thánh Giá. Amen.

Xin CHA cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Con cầu xin CHA, lạy CHA Chí Nhân, xin CHA tha tội cho các Linh Hồn nơi Luyện Hình, bởi vì các Linh Hồn đã không luôn luôn nhận lãnh Bí Tích Thánh Thể với lòng ao ước đủ; các Linh Hồn cũng thường nhận lãnh Bí Tích này với sự lo ra chia trí và không có lòng mến, hay đôi lúc còn dám nhận lãnh cách bất xứng, hay tệ hại hơn nữa, đó là chểnh mãng trong việc nhận lãnh Bí Tích Thánh Thể.
Để đền bù mọi tội lỗi trên đây mà các Linh Hồn đã vấp phạm, con xin dâng lên CHA sự thánh thiện cao cả và sự trầm mặc lớn lao của CHÚA GIÊSU KITÔ, Chúa chúng con, Con Chí Thánh CHA, cũng như tình yêu nhiệt thành mà qua đó, CHÚA GIÊSU đã ban cho chúng con hồng ân khôn sánh này là bí tích Thánh Thể. Amen.

Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con. Con cầu xin CHA, lạy CHA Chí Nhân, xin CHA tha tội cho các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội vì đã vấp ngã phạm bảy mối tội đầu, cũng như không muốn yêu thương, cũng chẳng tha thứ cho kẻ thù của mình.
Để đền bù cho mọi tội lỗi trên đây, con xin dâng lên CHA lời kinh đượm đầy tình yêu mà Con Chí Thánh CHA đã thân thưa cùng CHA, xin CHA thứ tha cho kẻ thù của Ngài, lúc Ngài bị đóng đinh trên Thánh Giá. Amen.

Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Con cầu xin CHA, lạy CHA Chí Nhân, xin CHA tha tội cho các Linh Hồn nơi Luyện Ngục, bởi vì, rất thường khi các Linh Hồn đã không chống trả lại các cơn cám dỗ và các dục tình, nhưng đã đi theo kẻ thù của điều lành và đã chìu theo các quyến rũ của xác thịt. Để đền bù cho các tội lỗi trên đây dưới mọi hình thức mà các Linh Hồn nơi Luyện Ngục đã phạm, con xin dâng lên CHA chiến thắng vinh quang mà Chúa GIÊSU KITÔ Chúa chúng con đã chiến thắng trên thế giới này, cũng như đời sống rất thánh thiện, việc làm và những lao cực, sự đau khổ và cái chết nhục nhã của Ngài. Amen.

Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Con cầu xin CHA, lạy CHA Chí Nhân, xin CHA hãy giải thoát chúng con khỏi mọi biến loạn, nhờ công nghiệp của Con Chí Ái CHA và xin dẫn đưa chúng con, cũng như dẫn đưa các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Hình vào trong Nước CHA, Nước của vinh quang vĩnh cửu, giống y như CHA vậy. Amen.

II. CHÚNG CON NGUYỆN DANH CHA CẢ SÁNG

... “Một ngày sẽ ra sao nếu chúng ta không hề cầu nguyện? Thưa, ngày đó giống như ngày - linh hồn là ái nữ của Thiên Chúa - không hề kính chào và thưa chuyện với Thiên Chúa là CHA mình” (nữ chân phước Elena Guerra). ... Vậy thì, không nên để ngày nào qua đi mà không đọc - ít là một lần - lời kinh do chính Chúa GIÊSU dạy:

Lạy CHA chúng con ở trên Trời; Chúng con nguyện danh CHA cả sáng; Nước CHA trị đến; Ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Xin CHA cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con; Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ; Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

Kinh LẠY CHA là Kinh hoàn hảo nhất trong mọi lời kinh. Nơi Kinh LẠY CHA gồm trọn mọi nhân đức: tin, cậy, mến, nhẫn nhục, phó thác, cầu xin, thống hối và từ bi. Mỗi khi đọc Kinh LẠY CHA, - nơi bốn lời nguyện đầu -, tín hữu cầu nguyện với toàn thể triều thần thiên quốc. Tiếp đến, rời khỏi thiên cung nơi đang đón chờ mình, tín hữu trở xuống trần gian, giơ cao đôi tay lên Trời. Tín hữu khẩn cầu những điều cần thiết cho cuộc sống và kêu xin sự trợ giúp để dành chiến thắng, hầu có thể trở về Thiên Quốc chiêm ngưỡng Thánh Nhan Thiên Chúa đến muôn đời.

Chỉ duy nhất Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng Cứu Độ thế giới, mới có thể truyền cho con người đọc Kinh LẠY CHA. Chỉ duy nhất Đấng là Tình Yêu mới có thể dạy con người lời Kinh LẠY CHA. Bởi vì qua Kinh LẠY CHA, nhân loại được hồng ân trở thành con cái của Đấng Tối Cao và anh em với Đức GIÊSU KITÔ. Nếu có người nào đó, bị cám dỗ nghi ngờ về tình yêu Thiên Chúa, nghi ngờ về nguồn gốc mình được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, hãy đọc và suy gẫm Kinh LẠY CHA.

Lời Kinh LẠY CHA gieo vào lòng con người một tâm tình ghi ơn trìu mến vì có được một Người Cha, ngự trên Trời, Đấng không ngừng thi ân giáng phúc cho con cái loài người. Khi xuống thế nhập thể, Thiên-Chúa-Con cũng muốn có một người cha nuôi là thánh cả GIUSE. Chính thánh cả GIUSE chăm sóc Đức GIÊSU trong thời thơ ấu và lúc Ngài còn xuân trẻ. Với cuộc sống nơi gia đình Nagiarét, có cha có Mẹ, Chúa GIÊSU muốn dạy loài người hiểu rằng: “Thật cao cả biết bao gương mặt và địa vị của người cha”! Nếu người cha trần thế như vậy, hình ảnh của Người Cha Thiên Quốc phải cao cả và êm ái muôn ngàn lần gấp bội.

1. CHÚNG CON NGUYỆN DANH CHA CẢ SÁNG

...Thiên Chúa phán cùng Môi-sen: Hãy nói với Aaron và con cái ông rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel, hãy nói với chúng thế này: "Xin Thiên Chúa chúc lành cho con và gìn giữ con, xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con và thương xót con. Xin Thiên Chúa ghé mặt lại cùng con và ban bằng yên cho con”. Chúng sẽ kêu cầu Danh Ta trên con cái Israel và Ta sẽ chúc lành cho chúng (Dân Số 9,22-27).

Trên Thiên Quốc, toàn thể triều thần chư thánh và các Tổng Lãnh Thiên Thần không ngừng chúc tụng: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng đã có, hiện có và đang đến .. Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con. Ngài xứng đáng lãnh nhận vinh quang, danh dự và uy quyền. Vì Ngài đã dựng nên muôn vật, và do ý Ngài muốn, mọi loài liền có và được dựng nên” (Khải Huyền 4,8+11).

Mỗi khi đọc Kinh LẠY CHA, con người kết hiệp cùng đạo binh Thiên Quốc, cất tiếng tung hô Danh Thánh Đấng Tối Cao là Cha Nhân Lành. Con người đọc lời “nguyện danh CHA cả sáng” với trọn tâm tình tri ân của người con thảo, dâng lên Đấng là Thánh trên hết mọi người thánh. Khi đọc lời “nguyện danh CHA cả sáng”, tín hữu cũng đặc biệt hướng về Chúa GIÊSU, Đấng là Con Thiên-Chúa-Cha. Nơi cuộc đời dương thế, Chúa GIÊSU đã dạy con người phải tôn vinh thánh Danh Thiên-Chúa-CHA như thế nào. "Lạy CHA là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen CHA, vì CHA đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy CHA, vì đó là điều đẹp ý CHA"(Mt 11,25-26).

Trong niềm vui cũng như trong nổi sầu, lúc tràn đầy ánh sáng cũng như khi gặp tăm tối, trong an bình cũng như lúc trải qua thử thách, người tín hữu một mực thân thưa cùng Thiên Chúa: “nguyện danh CHA cả sáng”. Phúc cho người con nào, không bao giờ nghi ngờ về tình thương của CHA mình. Trong bất cứ giờ phút nào, nơi bất cứ môi trường nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, phúc cho người luôn biết trung thành chúc tụng: “nguyện danh CHA cả sáng”!

... Đầu năm 1967, bà Svetlana Allilouieva - ái nữ của Iossif Staline (1879-1953) - tự ý rời bỏ Moscou, thủ đô Cựu Liên Xô, để xin tỵ nạn tôn giáo tại Hoa Kỳ. Quyết định này làm ngạc nhiên, nếu không muốn nói là gây công phẫn cho giới cầm quyền Moscou lúc bấy giờ. Thêm vào đó, những lời tuyên xưng đức tin của bà, làm cho giới lãnh đạo Liên Xô lúng túng không ít.

Vừa đặt chân lên đất Hoa Kỳ, bà Svetlana liền trao cho cảnh sát bản tuyên ngôn sau đây: “Quyết định rời bỏ Liên Xô là một quyết định hoàn toàn cá nhân, dựa trên những tâm tình riêng tư và những kinh nghiệm của chính tôi. Tôi không hề bị ai xúi giục, khuyên bảo hay giúp đỡ, để tôi rời bỏ Moscou cả.. Từ thời thơ ấu, người ta đã dạy tôi biết chủ thuyết cộng sản, và tôi đã tin vào chủ thuyết này, như bao người trẻ ngây thơ đáng thương khác. Nhưng rồi với thời gian, với tuổi tác và với kinh nghiệm, những xác tín của tôi từ từ biến đổi. Thêm vào đó, tôn giáo đã hoàn toàn thay đổi con người tôi. Tôi sinh trưởng trong một gia đình vô thần: cha mẹ không bao giờ nói đến Thiên Chúa, cũng không bao giờ đề cập đến vấn đề tôn giáo. Nhưng khi trưởng thành, tôi nhận thức rằng: “Con người không thể sống mà chối bỏ Thiên Chúa khỏi con tim và khỏi tâm hồn mình. KHÔNG. KHÔNG THỂ ĐƯỢC. Từ nhận thức này, tôi từ từ khám phá ra sự hiện hữu của Thiên Chúa và tôi tin vào Ngài. Có thể nói rằng, đây là một khám phá hoàn toàn cá nhân, không do tuyên truyền hoặc bị đầu độc”.

Trước khi đến Hoa Kỳ, bà Svetlana đã dừng chân một thời gian ngắn tại Thụy Sĩ. Nơi đây, bà cố gắng không để lộ sự hiện diện của mình. Để được hoàn toàn ẩn kín, bà xin trọ nơi một nữ tu viện, nằm ở vùng phụ cận Fribourg. Sau đó bà chuyển sang trọ nơi nhà các nữ tu “Thăm Viếng” ngay trung tâm thành phố Fribourg. Tại đây, vào mỗi Chúa Nhật, bà đến nhà thờ Chánh Tòa để tham dự thánh lễ.

Nhưng khi đặt chân đến Hoa Kỳ, bà Svetlana quyết định ra khỏi bóng tối và im lặng. Tại phi trường New York, bà công khai tuyên bố: “Tôi đến đây để được tự do diễn tả tư tưởng và tâm tình tôn giáo cá nhân, điều mà tại quê hương tôi, đã từng mấy chục năm qua, người ta luôn luôn tước đoạt, đe dọa và ngăn cấm”. Rồi bà buồn bã nói tiếp: “Ngoài những lý do sâu xa khiến tôi buộc lòng phải rời bỏ Liên Xô, tôi không thể bỏ quên con cái tôi vẫn còn ở lại Moscou. Nhưng tôi an tâm khi nghĩ rằng, các con hiểu tôi và chúng thông cảm cũng như sẵn sàng chấp nhận thái độ cùng quyết định của tôi. Chính các con tôi cũng ao ước tìm ra chân lý và đạt đến niềm tin vào Thiên Chúa. Tôi tha thiết nguyện xin Thiên Chúa soi sáng và giúp đỡ các con yêu dấu của tôi. Tôi đoan chắc rằng các con tôi không từ bỏ tôi và một ngày hạnh phúc nào đó, chúng tôi lại được may mắn gặp lại nhau”.

... “Thiên Chúa cho con người sống một số ngày và một thời gian nhất định. Chúa ban cho họ có quyền đối với các vật trên trái đất. Chúa cho họ có sức mạnh giống như Chúa. Chúa dựng nên họ giống hình ảnh Chúa. Chúa cho họ 5 hoạt động giống như Chúa, rồi cả hoạt động thứ sáu là Trí Khôn, và hoạt động thứ bảy là Lời Nói giải thích các việc Chúa làm. Chúa cho họ Trí Khôn để phán đoán, Lưỡi để nói, Mắt để xem, Tai để nghe và Trái Tim để suy nghĩ. Chúa đổ đầy vào họ trí thức thông minh. Chúa dạy cho họ biết sự lành sự dữ. Chúa đặt MẮT Chúa vào lòng họ, để họ xem thấy công trình cao cả của Chúa, mà ca tụng những việc lạ lùng của Chúa đến muôn đời. Chúa cũng ban cho họ kiến thức và lề luật, để con người sống xứng đáng là con người và là con Thiên Chúa” (Huấn Ca 17,2-11).

2. CHÚNG CON NGUYỆN DANH CHA CẢ SÁNG

Từ khi hai ông bà nguyên tổ loài người phạm tội, cửa Trời khép lại và con người sống cách biệt Thiên Chúa, trốn tránh Ngài và không dám kêu cầu Danh Thánh Ngài. Thiên Chúa gọi Ađam và phán bảo ông: “Ngươi đang ở đâu?”. Ông thưa: “Con nghe tiếng Ngài trong vườn địa đàng, nhưng con sợ hãi, vì con trần truồng và con đang ẩn núp” (Sáng-Thế 3,9). Phải, chính con người tự tách biệt khỏi Thiên Chúa do tội lỗi của mình. Nhưng kể từ ngày Con Thiên Chúa giáng trần, cứu độ thế giới, mọi sự đổi thay. Cửa Trời rộng mở, con người được giao hòa với Thiên Chúa trong liên hệ CHA-con. Đây là mầu nhiệm khôn lường của Tình Yêu! Từ đó, con người có thể ngước nhìn Trời Cao và khẩn cầu Danh Thánh Thiên Chúa là CHA.

“Nguyện danh CHA cả sáng” giữa lòng thế giới, trong toàn thể nhân loại. Nhận biết Danh Thánh Thiên Chúa đồng nghĩa với việc tiến bước trên con đường thánh thiện. Khi các thừa sai ra đi rao giảng Tin Mừng, trước tiên các ngài làm tỏa sáng Danh Thánh Thiên Chúa giữa các dân ngoại để muôn dân nhận biết sự hiện hữu của một Thiên Chúa là CHA.

Điều đầu tiên con cái loài người nguyện xin cho Thiên Chúa là CHA: mong CHA thực hiện các khát vọng cùng các sáng kiến của CHA nơi cuộc sống của từng người con, cũng như trong lịch sử nhân loại và trong toàn thế giới. Nguyện ước thực tiễn nhất con cái bày tỏ cùng CHA trên Trời: xin CHA hoàn thành chương trình cứu rỗi do Chúa GIÊSU Con CHA khởi đầu. Chương trình Thiên Chúa CHA được thể hiện qua việc Danh CHA được cả sáng, Nước CHA trị đến và Ý CHA được kiện toàn.

“Nguyện danh CHA cả sáng” là lời khẩn cầu đầu tiên của người con dành cho Thiên Chúa là CHA. Người con như thân thưa cùng Thiên Chúa rằng: Con ao ước biết bao cho mọi người được biết đến Danh Thánh CHA, hầu CHA có thể tỏ lộ cùng họ sự thánh thiện khôn lường của CHA, nghĩa là, Tình Thương Bao La của CHA.

(Câu chuyện sau đây xảy ra tại Việt Nam vào năm 1896, và do một linh mục thừa sai kể).

Một gia đình người lương ở Đà Nẵng rất có thiện cảm với đạo Công Giáo và tận tình giúp đỡ các linh mục ngoại quốc đang truyền giáo tại Việt Nam. Đã hai lần, gia đình này cứu tôi thoát khỏi nanh vuốt của Quan Tổng Trấn và các quân lính, lùng bắt các linh mục. Họ chẳng những cho tôi trú ẩn trong nhà, mà còn thay phiên nhau canh phòng cẩn mật ngày đêm, để không một ai nhận ra hoặc nghi ngờ gì về sự hiện diện của tôi. Chưa hết, họ còn chu đáo dọn cho tôi những món ăn đặc biệt của người Việt Nam với gạo thơm và nước trà hảo hạng.

Nhận thấy những cử chỉ tốt lành ấy, tôi vui mừng tự nhủ: “Gia đình ngoại giáo này hội đủ điều kiện để có thể lĩnh hội đạo lý Kitô”. Nghĩ thế, nên tôi ra công thuyết phục họ. Tôi cố gắng trình bày mọi khía cạnh cao cả của Kitô Giáo. Tôi cũng tìm ra các lý lẽ minh chứng rằng: Kitô Giáo rao giảng một nền luân lý thanh thoát và trong sạch, dựa trên Tình Yêu Thiên Chúa và tình thương con người.. Tôi thi thố mọi tài năng giảng thuyết, hầu đưa gia đình ngoại giáo trở về cùng Thiên Chúa. Nhưng tôi ngạc nhiên và thất vọng biết bao khi thấy họ hoàn toàn dửng dưng. Kitô Giáo không có gì mới lạ để lôi cuốn họ. Thấy thế, tôi liền kêu đến Trời Cao. Tôi khẩn nài Thiên Chúa soi sáng phải dùng phương thế nào, và rao giảng ra sao để đưa những ân nhân của tôi gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Và Thiên Chúa đã nhận lời tôi qua trung gian của một cậu bé, bằng một phương thế thật bất ngờ.

Cậu bé đó trạc tuổi 12-13 và là con của người hàng xóm. Cậu hoàn toàn mù tịt về đức tin Kitô, nhưng đã tình cờ nghe đọc một vài đoạn Kinh Thánh, dịch ra tiếng Việt. Một ngày, cậu bé kể lại câu chuyện thiếu niên Tobia được tổng lãnh Thiên Thần Raphael dẫn đường, cho cô thiếu nữ láng giềng nghe. Đây là cô con gái cưng của hai ông bà chủ nhà tôi đang trọ. Cô gái vừa thông minh vừa duyên dáng.

Ngay ngày hôm sau, thiếu nữ nói với tôi: “Con biết có một tôn giáo đẹp hơn tôn giáo của cha. Đó là tôn giáo của các Thiên Thần, sứ giả của Trời Cao. Nếu cha cũng biết tôn giáo này và thông truyền lại cho chúng con, con xin lãnh phần trách nhiệm đưa toàn thể gia đình con trở về với tôn giáo tuyệt vời ấy”.

Nghe thiếu nữ nói, tôi hiểu ngay bàn tay Thiên Chúa đã can thiệp. Tôi hoan hỉ trả lời: “Được. Tôi sẽ nói cho cô và gia đình cô nghe về giáo lý và chuyện các Thiên Thần”. Mọi người chấp thuận và ngồi quây quần chung quanh tôi. Tôi cẩn thận rút từ Kinh Thánh tất cả những trình thuật liên quan đến các Thiên Thần, bắt đầu từ Cựu Ước rồi sang Tân Ước. Trước tiên là chuyện con rắn trong vườn Địa Đàng và Thiên Thần cứu sống Isaac, con trai duy nhất của tổ phụ Abraham. Rồi đến thị kiến về thiên thần của ông Giuda Maccabêô, vv .. Trong Tân Ước, tôi bắt đầu câu chuyện Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie được Thiên Chúa sai đến truyền tin cho Trinh Nữ Rất Thánh MARIA, và kết thúc với chuyện các Thiên Thần xuất hiện nơi mồ Chúa, loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Sau cùng, khi Chúa GIÊSU Về Trời, hai Thiên Thần xuất hiện và nói: "Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên Trời? Chúa GIÊSU, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên Trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã trông thấy Người lên Trời"(Công Vụ 1,11).

Suốt cuộc đời truyền giáo, chưa bao giờ tôi thành công trong việc giảng thuyết như lần này. Mọi người há hốc miệng nghe, như nuốt từng lời tôi nói, say mê theo dõi câu chuyện tuyệt diệu về các Thiên Thần. Khi tôi dứt lời, tất cả đồng thanh kêu lên: “Chúng tôi xin từ bỏ các thần ngoại giáo để tin nhận Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng có các Thiên Thần làm Bộ Trưởng và Ngài đã trao ban cho từng thụ tạo một Thiên Thần Hộ Thủ, chăm sóc và giữ gìn!”.

Với niềm vui khôn tả, tôi dõng dạc tuyên bố: “Hỡi các bạn, kể từ giờ phút này, các bạn là tín hữu Công Giáo, bởi vì, tất cả những gì tôi vừa kể cho các bạn nghe, mới chỉ là một phần nhỏ của Kitô Giáo, tôn giáo do chính Chúa GIÊSU KITÔ sáng lập”. Những ngày kế tiếp, tôi bắt đầu giảng giải đạo lý Công Giáo một cách có hệ thống hơn. Và sau một tháng, tôi rửa tội cho toàn thể gia đình ân nhân của tôi ...

Lạy Chúa, ước gì chúng con trở thành những người mang lại niềm vui cho các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh, để nhờ sự trợ giúp của các ngài, Danh Chúa được hiển sáng nơi chúng con và ngày kia, khi được sum họp với các ngài trên thiên quốc, chúng con sẽ cùng với các ngài chúc tụng Danh Thánh Chúa đến mãi muôn đời. Amen. (Kết thúc lời nguyện cùng các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh).

. CHÚNG CON NGUYỆN DANH CHA CẢ SÁNG

“Đạo Đức Chúa Trời có 10 Điều Răn. Thứ nhất, thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự. Thứ hai, chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”.

Đó là Điều Răn do chính Thiên Chúa truyền cho Maisen trên núi Sinai. Khi nào con người “kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”? Trước tiên, khi con người nói lộng ngôn, xúc phạm đến Danh Thánh Thiên Chúa. Tiếp đến, khi con người kêu cầu Danh Thánh Thiên Chúa, nhưng lại không sống xứng đáng với Danh Ngài. Một người con không thể nói: Con yêu cha và thảo kính cha rồi ngay sau đó, lại không làm điều cha mong muốn và truyền dạy. Hoặc tệ hơn, làm ngược lại với lời giáo huấn của cha. Chúa GIÊSU phán: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Thiên Chúa! Lạy Thiên Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Thiên Chúa! Lạy Thiên Chúa! Nào chúng con đã chẳng từng nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?”. Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: “Ta không hề biết các ngươi. Hãy xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7,21-23).

Con người chỉ xúc phạm đến Thiên Chúa khi kêu tên Ngài vô cớ. Thế nhưng, khi con người sa ngã phạm tội, khi con người đang ở trong trạng thái tội lỗi, càng cần phải kêu cầu đến Danh Thánh Thiên Chúa. Kêu cầu Danh Thánh Chúa để được tha thứ và để được ơn trợ giúp trong cơn chiến đấu với ba thù: ma quỷ, xác thịt và thế gian. Mỗi khi bị Satan tấn công, kềm kẹp, hãy kêu cầu Danh Thánh Chúa. Chỉ duy nhất Danh Thánh Chúa mới có thể đẩy xa tên Cám-Dỗ và giải thoát con người khỏi ách thống trị của Satan, của tội lỗi. Kêu cầu Danh Thánh Chúa với tâm tình đơn sơ tín thác sẽ đem đến cho con người cả một suối nguồn sức mạnh và ơn thánh.

Đọc Sáng-Thế-Ký, người ta ghi nhận chi tiết: con rắn cám dỗ bà Evà vào giờ vắng bóng Thiên Chúa nơi vườn Địa Đàng. Chiều đến, khi Thiên Chúa xuất hiện để chuyện vãn với hai nguyên tổ, như thói quen Ngài vẫn làm, thì .. "mọi sự đã rồi!". “Ông Adong và Bà Evà nghe bước chân GiaVê Thiên Chúa dạo chơi trong vườn lúc chiều buông xuống, Ông Bà liền ẩn tránh khỏi nhan thánh GiaVê Thiên Chúa, giữa các bụi cây trong Vườn .. Thiên Chúa gọi Adong và phán bảo ông: “Ngươi đang ở đâu?”. Ông thưa: “Con nghe tiếng Ngài trong vườn địa đàng, nhưng con sợ hãi, vì con trần truồng và con đang ẩn núp”. Chúa hỏi ông: “Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng ngươi trần truồng, há chẳng phải tại ngươi đã ăn “trái cây” mà Ta cấm ngươi không được ăn ư?” (Sáng-Thế 3,8-11) ..

Con rắn đã cám dỗ bà Evà vào giờ vắng bóng Thiên Chúa nơi vườn Địa Đàng. Đúng thế, nếu Thiên Chúa hiện diện nơi vườn Địa Đàng, Satan không thể nào có mặt ở đó. Hơn nữa, nếu bà Evà biết khôn ngoan và khiêm tốn khẩn cầu Danh Thánh Thiên Chúa, hẳn Satan đã khiếp sợ bỏ trốn mất. Ước gì mỗi người ghi nhớ điều này. Mỗi khi bị cám dỗ, mỗi lúc gặp nguy nan, hãy kêu cầu Danh Thánh Thiên Chúa. Danh Thánh Thiên Chúa có sức mạnh cứu rỗi và giải thoát.

4. CHÚNG CON NGUYỆN DANH CHA CẢ SÁNG

... Trong túi áo của một binh sĩ Nga tử trận, người ta tìm thấy bức thư sau đây.

Chúa có nghe tiếng con không, lạy Chúa? Trong đời con, con chưa hề bao giờ thưa chuyện với Chúa. Tuy nhiên, ngày hôm nay đây, con cảm thấy nhu cầu cần phải chào kính Chúa. Con biết rằng, ngay từ lúc còn thơ, người ta đã không ngừng lập đi lập lại, rót vào tai con rằng: “Thiên Chúa không hiện hữu! Không có Thiên Chúa!”. Và con, con thật dại dột ngu si đến độ, con tin rằng điều đó đúng thật, nghĩa là không có Thiên Chúa! Cho đến giờ phút này đây, con cũng chưa bao giờ để ý đến hoặc chiêm ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên. Chỉ mới ngày hôm nay thôi, con mới nhận ra vẻ đẹp này. Đối diện với trái đất, là bầu trời đầy sao, đang hiện diện trên đầu con. Con lặng lẽ chiêm ngắm vẻ đẹp tuyệt vời của bầu trời lấp lánh muôn ngàn tinh tú! Ôi lộng lẫy biết là chừng nào! Làm sao mà con đã có thể bị lừa dối một cách phũ phàng cay đắng đến như thế! Lạy Chúa, con không biết là Chúa có giơ tay ra tiếp đón con không, nhưng phần con, con xin xưng thú điều này với Chúa và con tin rằng, Chúa sẽ hiểu con, đó là: một phép lạ đã xảy ra, bởi vì, giữa vực thẳm của địa ngục trần gian khủng khiếp, ánh sáng đã chiếu dọi, và con đã tìm thấy ánh sáng!

Con sẽ không nói thêm với Chúa điều gì khác nữa, ngoài việc bày tỏ với Chúa niềm vui vì được biết rằng: “Thiên Chúa hiện hữu thật sự. Ngài là Đấng Hằng Sống. Vào đúng nửa đêm, đêm nay, chúng con được lệnh phải bắt đầu cuộc tấn công. Nhưng kể từ giờ phút này đây, con không còn sợ hãi gì nữa hết! Bởi vì, con biết rằng, "Chúa đang ghé mắt chăm chú nhìn con"... Thôi, Chúa ơi, đã có còi báo hiệu rồi. Phải làm sao bây giờ? Con không có chọn lựa nào khác, ngoài chọn lựa là phải thi hành quân lệnh! Tuy nhiên, nếu được ở yên nơi đây với Chúa thì thật êm ái dịu dàng biết bao! Con còn muốn vội vàng bày tỏ thêm với Chúa điều này nữa: “Chúa biết không, trận chiến này sẽ vô cùng khốc liệt! Có lẽ ngay chính đêm nay, con sẽ đến gõ cửa nơi Nhà Chúa!”
Cho dẫu rằng, con đã không bao giờ là bạn hữu thân tình với Chúa, nhưng Chúa có cho phép con được vào trú ngụ nơi Nhà Chúa không? Xem kìa, người ta bảo rằng con đang khóc ... Chúa có thấy đó là điều lạ lùng đang xảy ra nơi một binh sĩ ở chiến trường không? ... Sở dĩ con khóc, là vì đôi mắt tinh thần của con đã được mở ra! Lạy Chúa, xin hãy tha thứ cho con. Con sắp xông vào trận chiến và con biết chắc chắn rằng, con sẽ không còn sống sót để trở về với gia đình. Nhưng lạ lùng và tuyệt diệu thay, con không cảm thấy sợ chết chút nào hết!!

Hãy ca tụng Chúa, tự cõi trời thăm thẳm.
Hãy ca tụng Người, mãi tận chốn cao xanh.
Hãy ca tụng Chúa, mọi sứ thần thuộc hạ.
Hãy ca tụng Người, toàn thể đạo thiên quân! ...
Hãy ca tụng Chúa, này vừng ô bóng nguyệt.
Hãy ca tụng Người, muôn tinh tú rạng soi.
Hãy ca tụng Chúa, hỡi cửu trùng cao vút.
Cả khối nước trời, chứa trên khoảng thinh không! ...
Hãy ca tụng Chúa, tự khắp mười phương đất.
Bậc vua chúa cũng như hàng lê thứ.
Khanh tướng công hầu, thủ lãnh trần gian.
Ai là nam thanh, ai là nữ tú.
Khắp mặt bô lão, khắp mặt nhi đồng.
Nào hãy ca mừng THÁNH DANH ĐỨC CHÚA!
(Thánh vịnh 148)

III. NƯỚC CHA TRỊ ĐẾN ... “Nguyện Nước Cha trị đến” và lời kinh kết thúc sách Khải Huyền: “Amen, lạy Chúa GIÊSU, xin ngự đến”.

1 . “ NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN” (Mt 4,17).

... Các môn đệ tới gặp riêng Chúa GIÊSU và thưa: “Xin Thầy nói cho chúng con biết điềm gì báo trước cuộc quang lâm của Thầy?”. Chúa GIÊSU đáp: “Các con hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt các con, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây là Đấng Kitô”, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Các con sẽ nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã; coi chừng, đừng khiếp sợ, vì những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là chung cục. Quả thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những cơn đói kém, và những trận động đất ở nhiều nơi. Nhưng tất cả những sự việc ấy chỉ là khởi đầu các cơn sầu khổ.

... Bấy giờ, người ta sẽ nộp các con, khiến các con phải khốn quẫn, và người ta sẽ giết các con. Các con sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Thầy. Bấy giờ sẽ có nhiều người vấp ngã. Người ta sẽ nộp nhau và thù ghét nhau. Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người. Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.

... Ngay sau những ngày gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển. Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời. Bấy giờ, mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia (Mt 24,3-31). “Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người. Đúng thế! Amen!” (Khải Huyền 1,7).

... “Khi các con thấy đồ-ghê-tởm-khốc-hại đứng ở nơi nó không được phép đứng - người đọc hãy lo mà hiểu! - (Mc 13,14): “Khi thấy tất cả những điều đó, các con hãy biết là Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi” (Mt 24,33).. “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, các con hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì các con sắp được cứu thoát” (Lc 21,28).

Khi đọc lại các đoạn Kinh Thánh trên đây, tín hữu Công Giáo đắm chìm trong biển suy tư và văng vẳng bên tai lời nhắc nhở: người đọc hãy lo mà hiểu!

2. HÃY ĐÓN CHỜ NGÀY CHÚA ĐẾN TRONG HY VỌNG.

Ngày 1-1-1994, lễ trọng mừng kính Mẹ Thiên Chúa, Đức Mẹ đã gởi các Linh Mục Quí Tử của Hiền Mẫu Maria sứ điệp tựa đề: “Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng”.

Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng. Các con yêu dấu, hãy khởi đầu năm mới với phụng vụ long trọng mừng kính Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Mẹ thật là Mẹ Thiên Chúa. Từ muôn thưở, Cha trên Trời đã chọn Mẹ vào sứ mệnh khôn tả này. “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, ôi lạy Chúa, nhưng đã chuẩn bị cho con một thân thể”. Để tạo thân thể cho Chúa Con, trong chương trình muôn thưở khôn ngoan của Ngài, Chúa Cha cũng đã dọn một thân thể cho Mẹ Người: như thế, từ muôn thưở, Mẹ đã xuất hiện nơi Tư Tưởng của Thiên Chúa Cha. Ngôi Lời từ muôn đời đã chiêm ngắm Mẹ, và ngay lúc Mẹ chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa, Người đã ngự xuống trong cung lòng đồng trinh Mẹ, và đã làm người. Và như thế, Thiên Chúa của Mẹ đã trở thành Con Mẹ. Chúa Thánh Thần từ muôn đời đã chiêm ngưỡng công trình tình yêu và đã tác động lạ lùng nơi cung lòng đồng trinh Mẹ, khiến Mẹ thụ thai mà không có sự can dự của người nam. Như thế, Chúa Thánh Thần trở thành Thiên Chúa Phu Quân của Mẹ. Ngày hôm nay, hãy chiêm ngắm Mẹ trong ánh sáng Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, hỡi các quí tử dấu yêu của Mẹ, và hãy mở rộng lòng các con cho niềm hy vọng.

Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng, bởi vì, đây là những năm chuẩn bị cho chiến thắng vinh hiển của Thiên Chúa cùng với cuộc CHÚA GIÊSU KITÔ trở lại trong vinh quang. Chức vụ làm Mẹ Thiên Chúa của Mẹ được thể hiện hôm nay với việc dọn đường cho Con Mẹ trở lại trong vinh quang. Mẹ đã từng làm Người Mẹ khiêm tốn và nghèo nàn trong lần Ngài giáng lâm đầu tiên như thế nào, thì nay Mẹ cũng làm Người Mẹ vinh quang và quyền uy trong lần Ngài tái lâm giữa các con như thế. Nhiệm vụ của Mẹ là mở cửa kỷ nguyên mới đang đón chờ các con. Nhiệm vụ của Mẹ là đưa các con đến trời mới và đất mới. Nhưng nhất là, Mẹ thi hành nhiệm vụ được ủy thác cho Mẹ Thiên Chúa: chiến thắng Satan và các quyền lực sự dữ, hầu Thiên Chúa đạt vinh quang tột đỉnh trong thế giới.

Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng, bởi vì, Mẹ cũng là Mẹ của toàn thể nhân loại. Và với tư cách là mẹ, Mẹ hằng trìu mến dõi theo các con Mẹ suốt dòng lịch sử nhân loại. Nhưng nhất là trong thời kỳ sau cùng này, Mẹ cảm thấy nhiệm vụ làm Mẹ một nhân loại bị rơi vào cạm bẫy của Satan và bị các quyền lực sự dữ ám hại. Ngày hôm nay Satan chiến thắng. Nó đã đẩy đưa toàn nhân loại đến chỗ chối bỏ Thiên Chúa và như thế, đặt nhân loại dưới ách thống trị hãi hùng của nó. Do đó, các con phải đau khổ nhiều. Nước mắt và máu trở thành của ăn hàng ngày cho các con. Năm mới bắt đầu hôm nay cũng sẽ mang lại cho các con gánh nặng niềm đau vô bờ. Với tư cách là Mẹ nhân loại, Mẹ được trao phó trách nhiệm giải thoát các con khỏi ách thống trị của Satan. Vì thế, từ giờ phút này, các con cần phải theo sát gót Mẹ trong trận chiến đẫm máu, hầu sau cùng, Mẹ dành được chiến thắng vinh quang nhất của Mẹ. Bởi vì, Satan bị Mẹ làm cho bất lực và quyền năng lớn nhất của sự dữ bị Mẹ phá vỡ tan tành. Thế là toàn thể nhân loại sẽ trở về sống cuộc hôn nhân đậm đà yêu thương với Thiên Chúa mình. Và Thiên Chúa sẽ ôm trọn nhân loại trong vòng tay mình rồi đưa nhân loại vào địa đàng, nơi nhân loại sẽ cùng Ngài sống mối hiệp thông trọn vẹn và hoàn hảo.

Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng, bởi vì, Mẹ là Mẹ thật của toàn thể Hội-Thánh. Suốt dòng thời gian, Mẹ luôn ở cạnh “ái-nữ” của Mẹ, với niềm lo lắng cũng như với nổi lòng từ mẫu của Mẹ. Mẹ đặc biệt ở cạnh Hội-Thánh trong thời sau cùng này, trong giờ phút đẫm máu của thanh luyện và của sầu khổ đắng cay. Giáo-Hội cũng phải hoàn tất chương trình Cha trên Trời hoạch định và như thế, được kêu gọi bước lên đồi CanVê dâng hiến hy lễ mình. “Ái-nữ” yêu dấu Mẹ sẽ bị tàn sát, bị đả thương, bị phản bội và tước đoạt, bị bỏ rơi và đưa ra pháp trường, bị đóng đinh vào thập giá. Trong nội bộ Hội-Thánh sẽ xuất hiện con-người-dữ-dằn, đẩy đưa cuộc bách hại khốn khổ lên tận chóp đỉnh, đúng như lời Kinh Thánh đã tiên báo. Nhưng các con đừng đánh mất lòng can đảm. Hãy vững mạnh trong niềm tin tưởng. Nhân ngày đầu năm mới hôm nay, các con hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng, bởi vì các con sẽ thấy rằng, rồi đây mọi biến cố Mẹ đã tiên báo đều được hoàn tất. Các con sẽ hiểu rằng, những năm sau cùng của kỷ nguyên này nằm trong chương trình nhiệm mầu của Thiên Chúa, đang được mặc khải ra.

Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng, bởi vì, đã đến thời điểm Mẹ Thiên Quốc các con tỏ hiện với trọn quyền uy của mình.

Mẹ là hừng đông báo trước một ngày rực rỡ huy hoàng của Chúa.

Mẹ là tiếng nói đang trở nên hùng mạnh trong thời kỳ này, để loan đi khắp hang cùng ngỏ hẽm trên toàn trái đất lời tiên báo của Mẹ: “Tất cả hãy chuẩn bị tiếp rước Chúa GIÊSU Con Mẹ, đang ngự giá mây trời mà đến, trong vẻ uy nghi vinh hiển Thiên Chúa.

3. HÃY ĐÓN CHỜ NGÀY CHÚA ĐẾN TRONG HY VỌNG.

... Trước đó, trong sứ điệp ngày 8-12-1990, Đức Mẹ nói:

*** Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ là cánh vườn thiên quốc, nơi Mẹ muốn quy tụ các con lại, hầu cho các con được hưởng nếm vinh quang toàn vẹn của Rất Thánh Ba Ngôi, trong thời kỳ phản đạo này. *** Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ là nơi nương ẩn vững vàng, mà Mẹ đã chuẩn bị cho các con, hầu các con có thể sống trong thanh thản những giờ phút đau thương của thời kỳ thử thách nặng nề. *** Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ là con đường sáng, dẫn đưa các con đến cuộc gặp gỡ hoan lạc với Chúa GIÊSU, đang trở lại giữa các con trong vinh quang.
Mẹ nhờ trung gian Phong Trào Linh Mục Thánh Mẫu để gởi đến các con lời kêu mời khẩn thiết, hầu thúc giục các con tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ. Như thế các con thông phần thực hiện chương trình từ mẫu Mẹ: chuẩn bị các tâm lòng tiếp rước Chúa đang đến.
Thiên Chúa Rất Thánh Ba Ngôi đã chọn Mẹ làm Mẹ Ngôi Lời, Đấng đã mặc xác phàm trong cung lòng đồng trinh Mẹ và nhờ đó, Mẹ trao ban cho các con Chúa GIÊSU Con Mẹ. Cuộc giáng lâm đầu tiên của Ngài giữa các con đã diễn ra trong cảnh khó nghèo, khiêm hạ và khổ đau, bởi vì Chúa GIÊSU muốn sống những giới hạn, khốn khổ và yếu hèn của thân phận làm người. Thế là Mẹ đã thi hành chức năng từ mẫu trong thinh lặng, cầu nguyện, ẩn kín và khiêm hạ.
Thiên Chúa Rất Thánh Ba Ngôi đã chọn Mẹ làm Mẹ của Mùa Vọng thứ hai. Như thế, nhiệm vụ từ mẫu Mẹ là chuẩn bị Hội-Thánh và toàn thể nhân loại tiếp đón Chúa GIÊSU đang trở lại giữa các con trong vinh quang. Cuộc tái lâm của Chúa GIÊSU sẽ diễn ra trong uy nghi vinh hiển thần linh, bởi vì CHÚA GIÊSU sẽ ngự giá mây trời mà đến, trong huy hoàng của Vì Vua và sẽ tập họp các thần dân quy phục quyền Ngài: các dân tộc cùng mọi quốc gia trên trái đất và tất cả các kẻ thù sẽ bị chà đạp dưới bệ Ngài hiển trị toàn thế giới. Do đó, tác động từ mẫu Mẹ trong thời sau cùng này được thể hiện cách rõ ràng và mỗi lúc một mạnh mẽ hơn, ánh sáng Mẹ trở nên chói chang hơn nơi mọi miền trên toàn trái đất. Vì lý do ấy, Mẹ hiện ra tại nhiều nơi và tỏ lộ bằng nhiều biến cố phi thường.
Nước tình thương mà Mẹ thiết lập nơi các tâm lòng là con đường chuẩn bị cho Nước vinh quang hiển trị của Chúa KITÔ. Cuộc chiến thắng của Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ trùng hợp với cuộc Chúa GIÊSU tái lâm trong vinh quang, đổi mới mọi sự. Vậy thì các con hãy lắng nghe lời Mẹ và hãy mau mắn chạy theo sau ánh sáng vô nhiễm của vẻ đẹp trinh khiết Mẹ, đến gặp gỡ Chúa KITÔ xuất hiện vinh quang.

Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng. Cuộc tái lâm của Chúa KITÔ đang đến gần. Các dấu hiệu Ngài ban cho các con để chuẩn bị tiếp rước Ngài, trong thời sau cùng này, đang lần lượt được thể hiện.

Hãy mở rộng lòng cho niềm hy vọng. Hãy sống trong niềm an bình của con tim và trong sự cầu nguyện.
Hãy sống trong niềm tin và trong hân hoan.
Hãy sống trong Ơn Thánh và trong sự trong sạch.
Hãy sống trong tình yêu và trong thánh thiện, bởi vì, Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng Cứu Độ, Vị Cứu Tinh và là Vua chúng ta, đang từ từ đến với các con trong vẻ huy hoàng của Thân Xác vinh hiển Ngài.

4. KỶ NGUYÊN CỦA LÒNG NHÂN HẬU ĐÃ ĐẾN.

Ngày 10-6-1987, Chúa GIÊSU và Mẹ Maria đã hiện ra với một phụ nữ Công Giáo trẻ tuổi người Mỹ - mang biệt danh Mariamante -. Chúa GIÊSU để lộ Thánh Tâm Ngài và Đức MARIA để lộ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ. Chúa GIÊSU phán:

“Cuộc Chiến Thắng của Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Thầy đã bắt đầu. Con hãy vui lên và hãy sung sướng vì được dự phần vào cuộc chiến thắng. Cuộc hiển trị của Thánh Tâm Thầy hoàn tất mọi lời Mẹ Thầy đã hứa ở FATIMA, nghĩa là: Vương quốc Hòa Bình được tái lập.

“Kỷ nguyên hòa bình này bao trọn toàn thế giới, sẽ được kết thúc với chiến thắng của Trái Tim Vô Nhiễm MARIA, Mẹ Thầy. Thế giới đáng thương hiện nay sẽ được biến đổi, trong một thời gian, theo hình ảnh Nước Cha Thầy và sẽ có Hòa Bình.

Thầy lập lại rằng: Các con hãy vui mừng vì được đặc ân sống trong kỷ nguyên này. Có rất ít người ý thức được tầm quan trọng của thời đại họ đang sống. Mọi sự sẽ đổi thay, ngay khi xuất hiện những dấu hiệu tỏ tường, vừa có một không hai vừa siêu nhiên, trên mặt đất.

“Thầy được an ủi vì con đáp lại lời Thầy mời và hy vọng rằng nhiều người khác cũng mau mắn đáp lại lời Thầy mời gọi, hầu mọi sự có thể hoàn tất cách nhanh chóng và để cho Cha Thầy được tôn vinh. Con sẽ có nhiều dịp thực hiện thánh ý Cha Thầy và đừng do dự trì hoãn. Ơn cứu rỗi của nhiều người tùy thuộc vào lời đáp ứng của con. Chính vì thế mà nhiều ân huệ ngoại thường đã được trao ban cho các con.

“KỶ NGUYÊN LÒNG NHÂN HẬU THẦY ĐÃ XUẤT HIỆN. Thời đại lòng nhân hậu Thầy đã đến. Thầy muốn nối kết trời và đất trong một ca khúc yêu thương để chúc tụng Rất Thánh Ba Ngôi. Thầy mời gọi các con hãy hân hoan. Thời giờ đã điểm. Ước gì được như vậy. AMEN!”.

... Trước đó, ngày 13-3-1987, Chúa GIÊSU phán cùng bà Mariamante về vai trò quan trọng của Mẹ MARIA:

“Với Mẹ Thầy, tất cả là mùa xuân vĩnh cửu. Các con sẽ dần dần khám phá ra Mẹ trên đường các con tiến bước. Mẹ tạo cho các con một thiên đàng đích thực trong Trái Tim Mẹ. Hãy đến với Mẹ khi Mẹ gọi các con. Hãy thi hành các lời Mẹ khuyên bảo. Mẹ sẽ luôn luôn đưa các con đến với Thầy. Thầy biết rõ có nhiều người do dự kêu cầu Mẹ Thầy, vì sợ sẽ bị giảm lòng kính mến Thầy. Thật là điên rồ, dại dột! Những người ấy không hiểu ý nghĩa của tình yêu. Họ sẽ không bao giờ có ý tưởng rồ dại ấy, nếu họ hiểu rõ chiều sâu con người Thầy. Thầy không bao giờ ghen tương với Mẹ Thầy, bởi vì, chính Thầy đã hoạch định chương trình đưa Mẹ Thầy vào vai trò bầu cử cho các con. Ước muốn rõ ràng của Thầy là như thế. Thầy đã từng nói với con cách đây vài năm rằng: “Trên trời, không có ghen tương”, và “Các linh hồn không xứng đáng chạy đến trực tiếp với Thầy. Họ phải nhờ trung gian chuyển cầu của Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Thầy”. Thầy hy vọng có số đông người đọc thấy điều này và từ bỏ ngay mọi ý tưởng điên rồ do tên Quỷ Ma-lanh gieo rắc vào.

“Đừng sợ chạy đến cùng Mẹ Thầy trong mọi hoàn cảnh. Các con phải chạy đến trước tiên với Mẹ và chính Mẹ sẽ cầm tay dẫn các con đến với Thầy.

“Nếu một linh hồn kết hiệp mật thiết với Mẹ Thầy và tìm nương ẩn vững vàng trong Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Thầy, thì Thầy sẽ không thể nào từ chối điều gì với linh hồn ấy, bởi vì, linh hồn ấy rất đẹp lòng Thầy. Chính sự chuyển cầu của Mẹ Thầy, khiến cho các con trở nên mĩ miều dưới mắt Thầy, vì các con đã được Mẹ Thầy thanh luyện và uốn nắn theo hình ảnh Thầy, giống như Thầy đã được thành hình trong cung lòng đồng trinh Mẹ, do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Hơn thế nữa, nếu ngày xưa Mẹ giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi chương trình Nhập Thể, thì ngày nay Mẹ cũng cần thiết trong việc hoàn tất ơn cứu rỗi cho từng người và trong việc đưa các con trở về với Thầy. Mẹ là cửa trời, qua đó, Thầy đến với các con, và nhờ đó, các con đến với Thầy. Loài người đã lầm lẫn khi làm giảm đi tầm quan trọng của vai trò Mẹ Thầy trong sự cứu rỗi của các con và sự cứu rỗi của thế giới. Mẹ luôn luôn nắm giữ vai trò quan trọng đầu tiên trong chương trình Cứu Rỗi. Bởi vì, Thầy vui lòng đến với các con qua trung gian của Mẹ Thầy cũng như hài lòng khi thấy các con đến với Thầy, nhờ sự chuyển cầu của Trinh Nữ Rất Thánh MARIA, Mẹ Thầy và cũng là Mẹ các con.

“Mẹ là Nữ Vương các thánh, Nữ Vương các Thiên Thần, Nữ Vương trời và đất. Mẹ sẽ đưa các con về trời nếu các con để cho Mẹ cầm tay dẫn dắt. Thầy rất đau khổ khi thấy các con trì hoãn hoặc từ chối lắng nghe sứ điệp của Mẹ, tại đây cũng như ở Fatima và trong các cuộc hiện ra tại nhiều nơi khác.

“Mẹ bầu cử cho các con và chỉ mong sao các con hợp tác với Mẹ, nhưng nhiều người giả điếc làm ngơ. Cần phải kiểm điểm lại, xem trong đời sống điều gì là chính yếu. Phải đặt những gì thuộc về Trời Cao lên hàng đầu, thay vì đưa xuống hàng thứ yếu. Khi Mẹ nói với các con điều gì, các con hãy lắng nghe và học hỏi, vì chính Thầy muốn cho Mẹ đến và dạy dỗ các con.

Nếu các con khước từ sứ điệp của Mẹ thì các con cũng khước từ Thầy, vì chính Thầy gởi Mẹ đến với các con.

“Hãy nhớ kỹ điều này. Đây là lời Thầy cảnh cáo các con: Hãy tiếp rước Mẹ Thầy nơi lòng các con, nếu không, Thầy sẽ không cho phép các con bước vào Vương Quốc Thầy. Ai nghĩ rằng mình có thể sống và hành động mà không cần sự trợ giúp của Mẹ MARIA, thì người đó phạm một lầm lẫn rất lớn và cần phải tức khắc điều chỉnh lại thái độ của mình. Hãy yêu mến Mẹ Thầy và các con sẽ yêu mến Thầy, đúng như chương trình tình yêu, do chính Cha Thầy đã muốn”.

5. NƯỚC CHA TRỊ ĐẾN.

Trên đây là giáo huấn do chính Chúa GIÊSU và Mẹ MARIA đưa ra, mời gọi con người hãy hồi tâm thống hối, cải thiện đời sống. Hãy trở về với Thiên Chúa là Cha. Hãy nhìn nhận Thiên Chúa là Chủ Tể duy nhất của cuộc sống, của lịch sử con người và lịch sử thế giới. Hãy chạy đến với Đức MARIA, phó thác trong vòng tay từ mẫu Mẹ. Hãy nhờ Mẹ chỉ dạy và dẫn đến với Chúa GIÊSU Con Mẹ. Cùng với Mẹ MARIA, nhân loại tin tưởng bước vào ngàn năm thứ ba, bước vào kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên của nhân hậu, công bình, bác ái, tình thương và hòa bình. Đó cũng là kỷ nguyên của Vương Quốc hiển trị của Chúa GIÊSU KITÔ. Lời Đức Mẹ nhắn nhủ như vang vọng trên toàn thế giới, khắp hang cùng ngõ hẽm: "Hãy chuẩn bị tâm lòng đón rước Chúa GIÊSU KITÔ, Ngài đang ngự giá mây trời mà đến”. Chúa GIÊSU đến, để thiết lập trật tự mới cho Nước của Ngài Nước công bình, bác ái, tình thương và hòa bình.

Hơn bao giờ hết, các tín hữu Công Giáo ý thức tầm quan trọng và ý nghĩa tuyệt đỉnh của lời nguyện xin Nước Cha trị đến. Vâng, mỗi người tha thiết cầu cho Nước Cha được thiết lập, để Danh Cha được cả sáng, hầu cho mọi người được sống trong an bình và tình thương.

... “Các con đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ ấy, dân ngoại vẫn tìm kiếm. CHA các con trên trời thừa biết các con cần tất cả những thứ đó. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ ban thêm cho các con”. (Mt 6,31-33).

Vâng, lạy Cha, nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến.

IV. Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ĐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI

1.Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ĐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI.

... “Trên Trời, hẳn Thiên Chúa Nhân Lành sẽ thực hiện hết mọi ước muốn của em, bởi vì, ở dưới đất này, em đã không bao giờ làm điều gì theo ý riêng em”.

Đó là lời thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan, nữ Tiến Sĩ Hội Thánh, thổ lộ với chị ruột người là Mẹ Agnès de Jésus, ngày 13-7-1897, hơn 2 tháng trước khi từ trần. Câu nói gói trọn bí thuật nên thánh của chị nữ tu Nhà Kín, 24 tuổi đời và 9 tuổi tu!. (Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu có tên thật là Marie-Francoise Thérèse MARTIN. Chị Thánh sinh ngày 2-1-1873 tại Alencon và qua đời ngày 30-9-1897 tại Nhà Kín Cát-Minh Lisieux, nước Pháp).

Khi đọc tất cả bút tích của Chị Thánh, người ta ngạc nhiên khám phá ra mức độ nên thánh anh hùng của Chị. Cuộc đời Chị gần như được tóm gọn trong khẩu hiệu Yêu thương và Phó thác. Chị Thánh đã đặt trọn cuộc đời mình trong Vòng Tay Quan Phòng của Thiên Chúa là CHA Nhân Lành và luôn luôn thực thi thánh ý Ngài.

Chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu nói với Mẹ Agnès de Jésus: “Em cảm thấy mình sắp được vào nơi an nghỉ. Nhưng nhất là, em cảm thấy sứ mệnh em sắp bắt đầu: sứ mệnh làm cho nhiều người yêu mến Thiên Chúa Nhân Lành giống như em yêu mến Ngài và tỏ lộ cho các linh hồn con đường nên thánh bé nhỏ của em. Nếu Chúa Nhân Lành khấng nhậm mọi ước nguyện của em, thì, Thiên Đàng của em sẽ diễn ra dưới đất cho đến ngày tận cùng thế giới. Vâng, em muốn dùng Trời Cao để làm điều lành cho trái đất. Đây không phải là chuyện không thể thực hiện được, bởi vì, ngay trong lúc vui hưởng Thánh Nhan Chúa, các Thiên Thần vẫn hằng dõi bước chăm sóc chúng ta.”

“Phần em, em không muốn ung dung vui thỏa, cũng không thể an nhàn nghỉ ngơi, bao lâu còn có nhiều linh hồn phải cứu vớt. Nhưng khi Thiên Thần truyền: Thời gian không còn nữa! Không còn trì hoãn nữa! (KH 10,6), chỉ lúc đó thôi, em mới an nghỉ, em mới có thể vui hưởng hạnh phúc, bởi vì, số người được chọn đã đủ và tất cả bước vào niềm hoan lạc cùng nghỉ ngơi. Lòng em reo vui vì tư tưởng này ..”

Thiên Chúa Nhân Lành không đặt vào lòng em niềm ao ước làm điều lành trên trái đất sau khi em chết, nếu Ngài không muốn thực hiện điều đó, trái lại, Ngài chỉ cho em niềm ước muốn được an nghỉ trong Ngài mà thôi”.

“Hồi Ba gặp thử thách, em nồng nhiệt ước ao chịu đau khổ .. Một buổi tối, lúc em biết rõ Ba lâm trọng bệnh, chị Marie des Anges thấy em buồn bã, liền tìm cách an ủi em, nhưng em nói với chị ấy: 'Ồ, chị Marie des Anges ơi, em cảm thấy mình có thể chịu đau khổ nhiều hơn nữa!'. Chị ấy ngạc nhiên nhìn em, và sau đó, thường nhắc lại chuyện này”.

Khi ghi lại lời trên đây, Mẹ Agnès de Jésus chú thích: Quả thật, chị Marie des Anges không bao giờ quên kỷ niệm buổi tối hôm ấy. Chị thỉnh sinh (Têrêxa) bé nhỏ thánh thiện của chúng con, còn ngồi trên ghế - sửa soạn vào giường - mặc áo ngủ với mái tóc óng ả buông phủ bờ vai. Chị Marie des Anges thuật lại: ”Cái nhìn và toàn thân chị thỉnh sinh lan tỏa một nét đẹp, vừa quý phái vừa trang trọng, khiến con ngỡ rằng mình trông thấy một trinh nữ của Trời Cao”.

“Em nhớ vào ngày chị em mình bị thử thách nặng nề nhất, em gặp chị Marie du Sacré-Coeur (tức chị cả Marie). Chúng em được phép chuyện trò nên em nói với chị Marie rằng, em đủ sức chịu đau khổ. Cũng chính lúc đó, em nghĩ đến lời bà Swetchine, giải thích về việc hoàn toàn tuân phục thánh ý Thiên Chúa: 'Sự cam-chịu còn tách biệt với thánh ý Thiên Chúa Nhân Lành. Ngay cả giữa sự kết-hiệp và hiệp-nhất cũng còn có sự khác biệt. Trong kết-hiệp, hai người còn là hai, nhưng trong hiệp-nhất, hai người trở thành một'.. Như thế, phải nói: hiệp nhất với thánh ý Thiên Chúa” ..

“Vào ngày em tuyên khấn 8-9-1890, người ta buộc em phải xin Chúa cho Ba được lành bệnh. Nhưng em không tài nào nói lời nào khác, ngoài lời này: “Lạy Chúa, con khẩn cầu Chúa, nếu đúng là thánh ý Chúa thì xin cho Ba con được khỏi bệnh!”.

.. “ 'In Te Domine speravi - Nơi Chúa con trông cậy!'. Vào những giờ phút đau khổ nhất, em cảm thấy sung sướng đọc lên lời này trong buổi hát kinh Thần Vụ”.

“Em không ích kỷ. Em yêu mến Thiên Chúa Nhân Lành chứ không thương riêng mình .. Theo tính tự nhiên thì em thích chết hơn, nhưng em chỉ hân hoan chết vì đó là thánh ý Thiên Chúa Nhân Lành định cho em .. Em không bao giờ xin Chúa cho chết sớm, vì thế, em chắc chắn rằng, trong lúc này đây, chính Thánh Ý Chúa thể hiện, chứ không phải ý riêng em”.

“Lời ông Gióp: 'Cho dù Thiên Chúa có giết tôi, tôi vẫn trông cậy nơi Ngài' đã làm vui thỏa lòng em ngay từ thời thơ ấu. Nhưng phải một thời gian rất lâu, em mới đạt đến mức độ phó thác này. Hiện giờ em đang ở trong tình trạng hoàn toàn phó thác. Chính Thiên Chúa đã đặt em vào đây. Ngài bồng em trên cánh tay Ngài và đặt em vào đó” ..

“Nếu trước đây, linh hồn em chưa được đầy tràn tâm tình phó thác nơi thánh ý Thiên Chúa Nhân Lành, nếu nó cứ để mình bị vây bủa bởi đủ mọi nổi buồn vui lẫn lộn, như vẫn thường dồn dập xảy đến trên trần gian này, hẳn giờ đây có một dòng thác đau đớn đắng cay đổ ập xuống hồn em, và em không thể nào chịu đựng được. Thế nhưng, các niềm vui nổi khổ này chỉ phớt qua trên bề mặt hồn em .. Dầu vậy, chúng cũng thật là những thử thách nặng nề!”.

“Lòng em đầy tràn thánh ý Thiên Chúa Nhân Lành. Vì thế, khi người ta đổ cái gì lên trên đó, nó không thể thấm vào bên trong, nhưng chỉ thoáng lướt trên mặt, giống như dầu không thể hòa tan với nước vậy. Em luôn luôn ở trong niềm an bình sâu xa, nên không gì có thể làm cho lòng em xao xuyến”..

... “Trên Trời, hẳn Thiên Chúa Nhân Lành sẽ thực hiện hết mọi ước muốn của em, bởi vì, ở dưới đất này, em đã không bao giờ làm điều gì theo ý riêng em”.

Tất cả những lời trích dẫn trên đây của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan, nữ Tiến Sĩ Hội Thánh, nêu bật mẫu gương của người con thảo, đơn sơ bé nhỏ, hoàn toàn tuân phục thánh ý Thiên Chúa, Người Cha Nhân Lành. Tuân phục từng giây từng phút. Thánh nữ Têrêxa quả là người môn đệ đích thực, đã theo sát gót bước chân của Chúa GIÊSU KITÔ, Vị Tôn Sư Chí Thánh.

2. Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ĐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI.

Nước Trời chỉ thuộc về những ai thi hành thánh ý Thiên Chúa Cha. Trên Trời, tất cả các thánh chỉ sống duy nhất với thánh ý Thiên Chúa. Vì thế, dưới đất này, người nào tuân phục thánh ý Thiên Chúa, người đó thuộc về Trời Cao. Ai thi hành thánh ý Thiên Chúa thì sống trong Thiên Chúa. Người sống trong Thiên Chúa không bị lầm lạc, không sa ngã phạm tội và chắc chắn sẽ chiếm được một chỗ trên Thiên Đàng. Kẻ nào chấp nhận thánh ý Thiên Chúa thì xóa bỏ ý riêng mình và được hưởng nếm hương vị của Trời Cao, ngay khi còn sống nơi trần gian này. Người ấy được niềm An Bình đích thực, niềm An Bình sâu xa, mặc dầu sống giữa trăm chiều thử thách đắng cay. Một người thực thi thánh ý Thiên Chúa sẽ giết chết được ý riêng đồi bại, lầm lạc của mình. Người đó trở thành thần khí, được tình yêu hun nóng và chỉ sống vì tình yêu mà thôi.

Lạy CHA, xin cho Ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Trước đó, chúng ta nguyện cho Nước CHA trị đến. Vâng, hết mọi người tha thiết cầu mong cho Nước CHA hiển trị. Ngày nào Nước CHA trị đến, ngày đó loài người được An Bình và Niềm Vui. Mọi người khao khát mong mỏi cầu xin cho Nước Chúa ngự trị trong các tâm lòng, nơi các gia đình, giữa các công dân và các quốc gia với nhau. Ao ước thôi chưa đủ, cần phải chịu đau khổ, chấp nhận hy sinh để thiết lập Nước Chúa nơi trần gian này. Ngày nào Nước Cha trị đến, ngày đó trái đất trở thành chiếc gương phản ánh nơi mỗi người cuộc sống trên Thiên Quốc. Trên Thiên Đàng, triều thần chư thánh chỉ có một lòng một ý và hoàn toàn thực thi thánh ý Thiên Chúa. Còn nơi trần gian, trăm người trăm lòng trăm ý. Nếu một người đạt đến mức độ tiêu diệt hoàn toàn ý riêng để thi hành thánh ý Thiên Chúa, người đó đã đạt được mức sống anh hùng, đang tiến nhanh trên đường hoàn thiện. Trái đất của người đó biến thành Trời Cao vậy!

Thánh ý Thiên Chúa Cha muốn cho mọi người, không trừ ai, được cứu rỗi, được an vui và hạnh phúc. Hạnh phúc ở đời này và hạnh phúc ở đời sau. Thánh ý Thiên Chúa muốn cho mọi người yêu thương nhau, không phân biệt ngôn ngữ, màu da, chủng tộc, chính kiến, tôn giáo, giàu nghèo, sang hèn, trẻ già, nam nữ .. Thế nhưng loài người dễ sa ngã phạm tội, mỏng dòn yếu đuối biết bao! Cần phải khẩn nài sự trợ giúp của Thiên Chúa. Cần phải kêu cầu lòng Nhân Lành thương xót của Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể cứu thoát loài người khỏi mọi điều ác hại.

Lạy CHA, xin cho Ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Chính Chúa GIÊSU KITÔ đã dạy loài người đọc lời Kinh này. Chúa GIÊSU đã dạy bằng chính gương sống của Ngài. Thư gởi tín hữu Do Thái viết: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là 'vâng phục'. Và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê” (5, 8-10) .. “Khi vào trần gian, Đức KITÔ nói: 'Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho Con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ Con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này Con đây, Con đến để thực thi thánh ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về Con'” (10, 5-7).. “Thầy không thể tự ý mình làm gì. Thầy xét xử theo như Thầy được nghe, và phán quyết của Thầy thật công minh, bởi vì, Thầy không tìm cách làm theo ý riêng Thầy, nhưng theo ý Đấng đã sai Thầy” (Gioan 5,30).

Lạy Thiên Chúa, này Con đây, Con đến để thực thi thánh ý Ngài. Chúa Giêsu đã thực thi thánh ý Thiên Chúa Cha cho đến giây phút cuối cùng: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi Con. Nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). CHÚA GIÊSU đã uống cạn chén đắng và trên Thánh Giá, trước khi tắt thở, Ngài nói: Mọi sự đã hoàn tất .. Lạy Cha, Con xin phó thác hồn Con trong tay Cha. Phải, chính do lòng tuân phục Thiên Chúa Cha mà CHÚA GIÊSU đã cứu thoát trần gian và loài người được ơn cứu rỗi.. Vậy đến phiên mình, môn đệ của Chúa Kitô cũng phải tuân phục thánh ý Thiên Chúa Cha, chấp nhận đắng cay, khổ giá trong cuộc sống hàng ngày.

3. Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ĐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI.

Bà Maria Agatha Simma sinh ngày 5-2-1915 tại Sonntag, nước Áo, trong một gia đình nghèo thật nghèo. Bà có lòng yêu thương cách riêng các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Vì thế, Thiên Chúa chọn bà làm vị tông đồ giúp đỡ các Linh Hồn. Chúa cho phép các Linh Hồn hiện về với bà để xin bà cầu nguyện hoặc làm việc đền bù phạt tạ thay cho các ngài. Bà cũng được đặc ân nhờ dịp này, hỏi các Linh Hồn về số phận của một vài Linh Hồn khác: còn bị giam nơi Lửa Luyện Hình hay đã về Thiên Quốc rồi? Bà kể:

.. Một người đàn ông đến xin tôi hỏi thăm về số phận của người vợ quá cố. Câu trả lời cho biết bà vẫn còn bị giam trong Lửa Luyện Hình. Điều đáng nói: bà này là thành viên của nhiều Hội Đoàn, khiến bà có thể nhận ơn toàn xá trong giờ lâm tử. Do đó, cứ sự thường, bà đã được lên Thiên Đàng lâu lắm rồi!

Tôi liền xin một Linh Hồn nơi Luyện Tội giải thích lý do. Linh Hồn đó trả lời: “Để được nhận lãnh hoàn toàn một ơn toàn xá cho chính mình, người ấy không được dính bén bất cứ sự gì nơi trần gian. Đây là một yêu sách triệt để. Lấy ví dụ: một người mẹ trẻ có năm đứa con dại đang quây quần bên giường chết. Vậy mà, người mẹ trẻ sắp chết đó phải thưa cùng Chúa: ”Con chỉ muốn điều Chúa muốn. Sống hay chết tùy ý Chúa!”.

Thật là một đòi hỏi khe khắt. Đúng vậy. Vì thế, cần phải luôn sống trong sự từ bỏ hoàn toàn và liên miên, để đến giờ Chúa gọi, thì mau mắn sẵn sàng ra đi về với Ngài trên Thiên Quốc!

Một Linh Hồn kể cho tôi nghe:
- Tôi chết ngay tại chỗ trong tai nạn xe môtô, trên một đường phố ở thủ đô Vienne của nước Áo. Tôi tử nạn vì không tôn trọng luật đi đường. Đó là số phận của tôi.
- Lúc đó, anh đã sẵn sàng để ra đi về thế giới bên kia chưa?
- Thật ra, tôi chưa sẵn sàng, nhưng Thiên Chúa Nhân Từ luôn ban cho một người - không bao giờ chủ ý phạm tội, hoặc không vì kiêu căng mà phạm tội chống lại Thiên Chúa - một thời gian ngắn hai hay ba phút để ăn năn tội cách trọn. Lúc đó, chỉ người nào vẫn còn từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa, mới bị kết án trầm luân đời đời trong Hỏa Ngục.

Linh Hồn này còn nói thêm một điều đáng suy nghĩ:
- Trong nhiều trường hợp, người ta nói: “Đã đến giờ Chúa định cho người ấy phải chết”. Thật ra không luôn luôn đúng như vậy. Chỉ đúng trong trường hợp một người chết không do ý muốn hoặc lỗi của mình. Còn trong trường hợp của tôi, theo chương trình của Chúa, đáng lý tôi còn sống thêm được 30 năm nữa! Vì thế, chúng ta không có quyền liều lĩnh, đưa mạng sống vào vòng nguy hiểm, trừ khi có lý do chính đáng! ..

4. Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ĐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI.

Ngày 12-6-1993, Stéphane - người Pháp - tử nạn lúc tuổi đời vừa tròn 20. Trước hung tin, cha mẹ anh bàng hoàng xúc động. Ông bà đau đớn tự hỏi: “Sao Chúa lại cất mất con mình, khi nó vừa bước vào lứa tuổi đẹp nhất?”. Thời gian đã trôi qua, kể từ khi xảy ra biến cố đau thương ấy. Giờ đây, hồi tưởng lại, bà Fernande - thân mẫu anh Stéphane - nhận ra trong thảm họa, kinh nghiệm đau đớn của Đức Trinh Nữ Maria, khi Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá. Bà Fernande nói:

Stéphane là một thanh niên vui tính, nhã nhặn, dễ thương và rất thích giúp đỡ tha nhân. Đam mê của nó là tìm kiếm gặp gỡ, trao đổi với người khác. Một thời gian ngắn trước khi nó tử nạn, gia đình chúng tôi đi hành hương Lộ Đức. Nơi Chặng Đàng Thánh Giá thứ 15, Stéphane thổ lộ với tôi câu nói mà tôi gìn giữ như một bảo vật. Nó nói: “Má ơi, má nhìn kia kìa, đó là phục sinh đấy. Má đừng quên!”.

Tôi có cảm tưởng con mình không chết, nó sẽ trở lại. Tôi không rõ mình có chịu tang không? Tôi không biết nữa. Đối với tôi, chịu tang không quan trọng. Điều tôi biết: không ngày nào mà tôi không khóc. Sức mạnh giúp tôi can đảm sống chính là biết rằng Stéphane đã sống lại rồi.

Kể từ đây, tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ trước mặt Chúa. Niềm tin của tôi gặp thử thách và có phần nào bị lung lay. Tôi thường tự nhủ: Thiên Chúa đã muốn hái cánh hoa đẹp nhất trong vườn hoa Ngài. Thiên Chúa lắng nghe lời chúng ta cầu khẩn và ra tay giúp đỡ chúng ta. Nếu Chúa không có mặt ở đấy, hẳn là cuộc đời tôi không có ý nghĩa gì.

Việc cầu nguyện cùng Đức Mẹ đã nâng đỡ tôi rất nhiều. Kinh nghiệm đau thương giúp tôi hiểu được phần nào nổi đau đớn bao la hơn trời bể của Trinh Nữ MARIA, Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ đã bị xé nát ruột gan khi đứng dưới chân Thánh Giá, nhìn Con mình chết tất tưởi, treo tủi nhục trên Thánh Giá. Cho dầu vẫn còn khó khăn để thưa cùng Chúa: Xin cho ý CHA thể hiện, tôi đã được Chúa ban cho ơn cưu mang con trai tôi, trong đau khổ và trong hy vọng.

Trước lời thú nhận của bà Fernande: “Vẫn còn nhiều khó khăn để thưa cùng Chúa: Xin cho ý Cha được thể hiện”, một bà mẹ Công Giáo khác góp ý như sau.

Tôi hiểu nổi đau buồn của bà Fernande vì tôi cũng đã mất một người thân dấu ái, trong một hoàn cảnh bi đát tương tự. Cái chết, tai nạn, thiên tai: tất cả những hoạn nạn này, phải chăng chúng xảy đến là do ý muốn Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu? Không, tôi không tin như thế. Đây là điểm nghi vấn, một nan giải, một mầu nhiệm đối với tôi. Khi đọc kinh Lạy Cha và thân thưa cùng Chúa: Xin cho Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời, tôi phân vân tự hỏi: “Đâu là thánh ý Chúa Cha? Chúa GIÊSU, Con Chúa Cha đã truyền cho chúng ta một mệnh lệnh duy nhất: Hãy yêu thương. Hãy nên hoàn thiện trong Tình Yêu. Khi nghĩ đến người thân yêu quá cố, tôi thầm nhủ: “Người đó đang sống trong Tình Yêu và mong ước cho tôi cũng sống trong cùng Tình Yêu ấy. Lạy Cha, xin cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Cứ mỗi lần đọc câu này, tôi thường cầu nguyện thêm rằng: Lạy Cha, xin cho Tình Yêu được tỏ lộ dưới đất cũng như trên Trời, thể theo thánh Ý CHA.

5. Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ĐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI.

... Chúa GIÊSU còn đang nói với đám đông, thì có Mẹ và anh em Người đứng bên ngoài, tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa Người rằng: “:Thưa Thầy, có Mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy”. Người bảo kẻ ấy rằng: “Ai là Mẹ Thầy? Ai là anh em Thầy?”. Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: “Đây là mẹ Thầy. Đây là anh em Thầy. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên Trời, người ấy là anh chị em Thầy, là mẹ Thầy” (Mt 12, 46-50).

Lời dạy của CHÚA GIÊSU nói lên tầm quan trọng của việc thi hành thánh ý Thiên Chúa Cha. Người đầu tiên nêu cao mẫu gương tuân phục thánh ý Chúa Cha là Đức GIÊSU KITÔ. Tuân-phục là nhân đức đặc thù của Ngôi Lời, được Thiên Chúa Cha chỉ định và sai xuống thế làm Người để trở thành Đấng Cứu Độ muôn loài. Tình-Yêu, Quyền-Lực, Toàn-Thiện, Khôn-Ngoan là những đặc tính chung của cả Ba Ngôi Vị Thiên Chúa. Nhưng tuân-phục thuộc riêng về duy nhất một mình Đức GIÊSU KITÔ. Người đã tuân phục mặc xác phàm, tuân phục sống nghèo khó, tuân phục lệ thuộc người đời, tuân phục thi hành sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và sau cùng, tuân phục chết treo trên thánh giá.

Vì thế, khi một người vâng lời, hoặc Bề trên, hoặc Thiên Chúa, trong việc nhỏ cũng như trong việc lớn, kể cả việc phải từ bỏ và hy sinh mạng sống, người ấy nên giống như Đức GIÊSU KITÔ, Vị Tôn Sư Chí Thánh. Đức GIÊSU KITÔ là Người Tuân Phục Tuyệt Hảo, Tối Cao, Toàn Thiện vì Ngài vừa là Người thật, vừa là Thiên Chúa thật.

Tiếp liền sau Chúa GIÊSU là Trinh Nữ Rất Thánh MARIA, Hiền Mẫu của Đức Giêsu và của toàn thể nhân loại. Suốt cuộc đời Đức Mẹ là tiếng THƯA VÂNG không ngừng: “Này Tôi là Nữ Tì Chúa - Lạy Chúa, xin cho ý Chúa được thực hiện”. Đức MARIA muốn giữ mình thanh khiết, nhưng Thiên Chúa lại muốn Người kết hôn với Thánh Cả GIUSE. Đức MARIA cúi đầu tuân phục. Đôi Bạn Thanh Sạch GIUSE-MARIA đang còn trong dự tính sẽ sống với nhau như Anh Em ruột, thì Sứ Thần Chúa hiện ra đưa sứ điệp: Thiên Chúa muốn chọn Trinh Nữ MARIA làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Một lần nữa, Mẹ cúi Đầu Thưa Vâng. Kể từ giây phút Thưa Vâng lịch sử và anh hùng ấy, Đức Maria bắt đầu bước vào con đường khổ giá, đồng công cứu chuộc với Con Mẹ là Đức GIÊSU KITÔ. Con đường khổ nạn đạt chóp đỉnh trên ngọn đồi Golgotha, khi Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá, nhìn Con Yêu Dấu trút hơi thở cuối cùng.

Chính lòng tuân phục hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa đã khiến Đức MARIA trở thành một Nữ Tì có đầy quyền lực trên Trái Tim Chí Thánh Con Mẹ. Bất cứ điều gì Mẹ xin, cũng đều được Chúa GIÊSU nhận lời đáp ứng. Chúa GIÊSU không bao giờ từ chối một điều gì với Mẹ Người. Ngoài ra, thánh ý của Chúa GIÊSU là muốn cho con cái loài người hết lòng yêu mến và kính trọng Đức Mẹ. Là tín hữu, còn đang trên đường dương thế, hãy luôn luôn khẩn cầu cùng Đức Trinh Nữ Rất Thánh MARIA. Bởi vì, Đức Bà là: Mẹ thông ơn Thiên Chúa, Mẹ chỉ bảo đàng lành, Mẹ là Cửa Thiên Đàng, Mẹ cứu kẻ liệt kẻ khốn, Mẹ bàu chữa kẻ có tội, Mẹ an ủi kẻ âu lo và Mẹ phù hộ các giáo hữu!

Người thứ ba - sau Đức GIÊSU và Mẹ MARIA - luôn khiêm tốn cúi đầu chấp nhận thánh ý Thiên Chúa, chính là: Thánh Cả GIUSE. Thánh Cả GIUSE không hề tìm kiếm điều gì khác ngoài Vinh Quang Thiên Chúa và thiện ích cho tha nhân. Tận hiến toàn thân cho Thiên Chúa, Thánh Cả GIUSE chỉ cảm nhận niềm vui vì được cầu nguyện, làm việc, hy sinh và chết cho Đấng Cứu Thế. Cuộc sống và công nghiệp của Thánh Cả GIUSE không được người đời biết đến, nhưng lại vô cùng cao trọng trước mặt Thiên Chúa. Đức GIÊSU thật hài lòng mỗi khi đưa mắt nhìn vị Cha Nuôi, sống khiêm hạ và ẩn kín bên sau Ngài!

Nếu mỗi tín hữu Công Giáo biết noi theo mẫu gương tuân phục thánh ý Thiên Chúa Cha của Ba Đấng: GIÊSU-MARIA-GIUSE, thì tín hữu sẽ trở nên bạn hữu của Ba Đấng và chắc chắn sẽ được trở thành công dân Nước Trời, được vào hưởng vinh quang với Ba Đấng trong Nước Trời. Ước gì được như vậy. AMEN.

V. XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY

Lạy CHA chúng con ở trên Trời
Chúng con nguyện danh CHA cả sáng
Nước CHA trị đến
Ý CHA thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Xin CHA cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

1. XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY.

... Hơn bao giờ hết, các tín hữu Kitô ý thức tầm quan trọng và ý nghĩa tuyệt đỉnh của lời nguyện Nước Cha trị đến. Vâng, mỗi người tha thiết cầu cho Nước Cha được thiết lập, Danh Cha được cả sáng và Ý CHA được thể hiện dưới đất cũng như trên Trời. Như thế, toàn thể nhân loại được sống trong an bình và tình thương ..

Sau khi khấn xin những điều thuộc về lãnh vực tinh thần, bây giờ, tín hữu bước sang lãnh vực vật chất. Đây là phần thứ hai của Kinh LẠY CHA. Xin Cha lương thực. Xin Cha ơn tha thứ. Xin Cha lòng trung tín. Và xin Cha giải thoát khỏi sự dữ.

Trước tiên, xin CHA cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Xin lương thực với CHA là Đấng “vẫn hằng nuôi dưỡng chim trời và mặc áo cho hoa huệ ngoài đồng”. Trong lời nguyện CHÚA GIÊSU dạy loài người đọc, không có lời nào dư thừa vô ích. Mỗi lời đều có nhiệm vụ và ý nghĩa riêng. CHÚA GIÊSU nhấn mạnh: hôm nay - lương thực hằng ngày.

*HÔM NAY*. Mỗi ngày, từng ngày, ngày qua ngày. Con người khẩn khoản nài xin sự trợ giúp của Thiên Chúa Cha cho ngày hôm nay. Cầu xin cho từng ngày biểu lộ ba đức tính chủ yếu: thận trọng - công bình - khiêm tốn.

- Thận trọng. Con người mãi mãi muôn thưở là một đứa bé và là một đứa bé ương ngạnh! Vì thế, nếu nhận được tất cả cùng một lúc, đứa trẻ sẽ phung phí. Nhưng ơn lành Thiên Chúa ban là để con người sử dụng đúng chỗ, đúng lúc, chứ không phải để phung phí. Hơn nữa, nếu có ngay được mọi thứ, con người sẽ no thỏa và quên đi Thiên Chúa. Con người sẽ sống bất cần Thiên Chúa, sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu!

- Công bình. Nếu Chúa GIÊSU KITÔ là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nhưng Ngài vẫn xin Thiên Chúa Cha trợ giúp mỗi ngày, thì con người là gì, mà lại không muốn kêu xin Thiên Chúa từng ngày? Vã lại, nếu xin tất cả cùng một lúc, há chẳng phải con người lo sợ rằng: biết đâu ngày mai, Thiên Chúa sẽ không cho nữa, nên xin hết một lần cho chắc ăn! Đây là sự ngờ vực, thiếu tín thác nơi sự quan phòng của Thiên Chúa. Và “ngờ vực Thiên Chúa” là trọng tội. Con người không cần phải nghi ngờ Thiên Chúa. Con người cũng không được phép hồ nghi Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương con người cách hoàn hảo vì Ngài là Người Cha Hoàn Thiện. Vì thế, nếu xin tất cả cùng một lúc, tức là làm thương tổn lòng tin cậy và xúc phạm đến Thiên Chúa là CHA.

- Khiêm tốn. Sự kiện phải kêu xin Thiên Chúa trợ giúp từng ngày, từng ngày, làm khơi động nơi con người ý thức mình hư không, là kẻ nghèo khó, sống tùy thuộc hoàn toàn nơi Thiên Chúa, nơi sự Giàu Có khôn lường của Thiên Chúa.

*LƯƠNG THỰC*. Trong nguyên bản, lời kinh được hiểu là BÁNH tương đương với CƠM, tức là thức ăn chính, tuyệt đối cần thiết cho con người. Trong tiếng BÁNH-CƠM bao gồm mọi nhu cầu cho cuộc sống nơi trần gian này. Thế nhưng, con người gồm cả xác lẫn hồn. Vì thế, lương thực phải được hiểu là nhu cầu cho hai lãnh vực thể xác và tinh thần.

- Lương thực - Cơm bánh. Đây là lời xin ở bậc thấp nhất. Ít ra con người biết khẩn cầu Thiên Chúa ban cho cơm-bánh hằng ngày, không phải chết đói. Và mỗi người dùng phần của mình, chứ không được tước đoạt cơm-bánh của người khác, đặc biệt của những người bé nhỏ, yếu đuối và nghèo khổ hơn mình. (Không được sống trên xương máu của đồng loại!). Kẻ nào làm vậy, tức là xúc phạm đến Thiên Chúa và nguyền rủa anh chị em mình. Kẻ ấy sẽ bị Thiên Chúa nghiêm nghị quở trách, bởi vì đã lỗi lề luật do chính Thiên Chúa truyền dạy: “Con hãy yêu mến Thiên Chúa con hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn và yêu thương người thân cận con như chính mình con vậy” (Lc 10,27).

- Lương thực - Lao công. Lao công đi đôi với cơm-bánh. Công ăn việc làm, kế sinh nhai là thế! Cầu xin Thiên Chúa ban lương thực mỗi ngày đồng nghĩa với việc xin Chúa cho tìm ra việc làm, hầu có tiền nuôi sống bản thân và gia đình.

- Lương thực - sự trợ giúp. Con người không chỉ sống bằng CƠM BÁNH nhưng còn sống vì tư tưởng nữa. Do đó con người cũng phải kêu xin sự trợ giúp của Thiên Chúa mỗi ngày. Xin trích dẫn đoản văn tựa đề: “Bắt đầu ngày sống”:

.. Một buổi sáng, tôi thức dậy thật sớm và vội vã tra tay vào việc. Tôi có quá nhiều việc phải làm, nên không có giờ để cầu nguyện. Thế rồi, các vấn đề dồn dập xảy đến và công việc như mỗi lúc một nặng nề hơn. Tôi liền băn khoăn tự hỏi: “Sao Chúa không giúp mình nhỉ?”. Tức khắc, tôi nghe tiếng Chúa trả lời: “Con đâu có xin Cha trợ giúp!” .. Tôi muốn gặp toàn niềm vui và vẻ đẹp, nhưng rồi một ngày trôi qua với toàn u ám và bế tắc. Tôi trầm tư chất vấn: “Sao Chúa không chỉ cho mình nhỉ?”. Chúa đáp: “Nhưng con đâu có kiếm!” .. Tôi tìm cách vào nơi Chúa ngự. Tôi thử đút hết mọi chìa khóa vào ổ khóa, nhưng vô hiệu. Cánh cửa vẫn đóng kín. Thiên Chúa liền dịu dàng và trìu mến trêu chọc tôi: “Con à, sao con không gõ cửa?” .. Sáng nay, tôi thức dậy thật sớm và dừng lại suy nghĩ trước khi bắt đầu một ngày mới. Tôi có rất nhiều việc phải làm, vì thế, tôi phải dành thời giờ để cầu nguyện ..

Mỗi ngày, người tín hữu đạo đức, không bao giờ quên đọc kinh: Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.

- Lương thực - tôn giáo. Con người không phải chỉ tìm thỏa mãn giác quan và tình cảm nhưng còn khao khát Chân-Thiện-Mỹ. Paul Claudel (1868-1955) là văn thi sĩ kiêm nhà ngoại giao và là tín hữu công giáo người Pháp. Ông viết: “Ai có thể cất khỏi lòng con cừu cái, sự khát vọng cỏ xanh tươi? Ai có thể cất khỏi lòng người già nua, khát vọng hướng về Thiên Chúa? Và ai có thể cất khỏi lòng người trai tráng, một khát vọng không phải là tiền bạc? Khát vọng nào? Thưa, khát vọng tiến tới chân trời .. ”

- Lương thực - tinh thần / Lương thực - hy sinh. Đây là lời xin của con người đã đạt mức trưởng thành, biết đặt tinh thần trước vật chất, biết tìm kiếm chân lý và hy sinh. Mỗi ngày, hàng ngày, từng ngày, con người kêu xin Thiên Chúa cho mình được tìm ra sự thật, sống trong sự thật và chấp nhận hy sinh. Félicité de Lamennais (1782-1854) văn sĩ người Pháp viết: “Chân lý đòi hỏi chúng ta phải hy sinh. Chúng ta hãy sẵn sàng từ bỏ lạc thú để sống trong ánh sáng trật tự. Thiên Chúa đã dựng nên hai chị em không bao giờ ly tán nhau. Đó là chân lý và hy sinh. Nhưng tôi thiết tưởng không nên vì sợ hy sinh mà bóp chết chân lý”. Triết gia người Mỹ, ông William James (1842-1910) viết: “Mỗi ngày một lần, bạn hãy làm một cái gì, chỉ vì một lý do: là vì việc ấy vốn bạn không ưa. Làm thế, để giờ phút nguy ngập đột nhiên xảy tới, bạn có đủ nghị lực đối phó”.

- Lương thực - Bánh Hằng Sống - Bánh Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là của ăn thiêng liêng, Bánh Hằng Sống nuôi dưỡng linh hồn. Mỗi ngày, hãy sốt sắng tham dự Thánh Lễ, rước Mình Thánh Chúa để có sức mạnh và ơn thánh, giúp sống xứng đáng cuộc đời tín hữu Công Giáo.

2. XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY.

Cho đến khi nào xuôi tay nhắm mắt, con người mới hết cần đến lương thực. Khi về Trời, con người chỉ còn no thoả Thiên Chúa. Mối Phúc Trời Cao chính là lương thực cho triều thần thiên quốc. Thế nhưng, bao lâu còn sống nơi trần gian này, bấy lâu con người còn cần đến cơm bánh. Và loài người là con cái Thiên Chúa. Cho nên, cứ lẽ tự nhiên, con người có thể thân thưa cùng Thiên Chúa: “Xin CHA cho chúng con lương thực”. Nếu kêu cầu cùng Thiên Chúa, chắc chắn Ngài sẽ nghe lời con cái nài van.

... Ai trong các con có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: “Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả”, mà người kia từ trong nhà lại đáp: “Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được”. Thầy nói cho các con biết: dẫu người kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh cần, vì thể diện, (hoặc để khỏi bị quấy rầy) (Lc 11,5-8).

Đó là dụ ngôn. Về phần con người, khi cầu xin cùng Thiên Chúa, con người không xin với một người bạn trần gian, nhưng quy hướng về Người Bạn Hoàn Hảo là CHA trên Trời. Thế nên Thầy bảo các con: “các con cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong các con là một người cha, mà khi con xin cá, lại lấy rắn thay vì cá mà cho nó? Hoặc nó xin trứng, mà lại cho nó con bọ cạp? Vậy nếu các con là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha các con trên Trời, là Đấng Nhân Hậu Vô Biên, lại không cho các con điều các con xin sao?” (Lc 11,9-13). Vậy thì, hãy khiêm tốn khẩn nài với trọn tình con thảo, xin Cha trên Trời ban cho chúng ta cơm bánh - lương thực hằng ngày.

... Bà Maria là một phụ nữ Công Giáo trẻ tuổi người Pháp, sống tại thủ đô Paris. Bà đang trở về với việc giữ đạo đàng hoàng. Ông Anrê, người giúp bà trên con đường hoán cải, là một tín hữu nhiệt thành, rất yêu thích việc cầu nguyện. Một hôm, ông nói với bà: “Thiên Chúa ban mọi điều chúng ta cầu xin, kể cả những điều nhỏ mọn trong cuộc sống thường ngày. Điều quan trọng là chúng ta phải có đức tin và có lòng tín nhiệm”.

Nghe ông Anrê quả quyết như thế, bà Maria tỏ dấu nghi ngờ. Bà muốn kiểm chứng xem lời ông nói có đúng không. Vào cùng ngày đó, bà cần lá cây nguyệt-quế để nấu thịt, bà liền thưa cùng Chúa: “Lạy CHÚA GIÊSU, xin gởi cho con một ít lá nguyệt-quế đi, vì con đang cần!”. Suốt ngày hôm ấy, trong khi dạy học, bà Maria chỉ lẩm nhẩm, lập đi lập lại lời nguyện ấy. Cầu xin, nhưng lòng bà hơi nghi ngờ. Bà thầm nghĩ: “Hẳn CHÚA GIÊSU chả thèm đáp lại một lời xin quá nhỏ mọn của mình: xin lá nguyệt-quế để nấu thịt!”.

Thế nhưng .. vào lúc 8 giờ tối, khi bà Maria trở về chung cư, vừa bước vào cổng, người gác-dan liền gọi bà và hỏi: “Bà Maria ơi, bà có thường dùng các thứ lá cây, lá rau đủ loại để làm bếp không? Chúng tôi vừa từ quê lên, và có mang theo nhiều lá nguyệt-quế, bà có muốn một ít không?”. Vừa nghe hai tiếng nguyệt-quế, bà Maria như bủn rủn tay chân. Bà lẩm nhẩm: nguyệt-quế .. nguyệt-quế, và nước mắt tràn trụa! Người gác-dan vui vẻ trao cho bà Maria - không phải chỉ một nhánh lá nguyệt-quế - nhưng là ba bó lá nguyệt-quế thơm phức!

Vừa ôm ba bó lá vừa bước lên cầu thang, lòng bà Maria vô cùng xúc động. Bà chỉ biết lấp bấp lời tạ ơn Thiên Chúa Nhân Lành và một phép lạ xảy ra: đức tin yếu ớt của bà được củng cố!

Quả đúng như lời CHÚA GIÊSU phán: Thầy bảo các con: “các con cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho (Lc 11,9).

3. XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY: BÁNH THÁNH THỂ.

... Câu chuyện sau đây xảy ra tại một làng nhỏ bên nước Hung-gia-lợi. Năm đó Hung-gia-lợi còn nằm dưới ách thống trị của chính quyền cộng sản Liên Xô. Chính cha Norbert, cha sở họ đạo kể lại.

Nơi một lớp tiểu học có 32 trẻ nữ. Cô giáo tên là Gertrude. Cô ta là một nữ cán bộ cộng sản cuồng tín và vô cùng thâm độc. Cô biến lớp học thành nơi đào tạo những đứa trẻ vô thần. Các trẻ này là con em của các gia đình Công Giáo. Nhưng vì sợ hãi trước giọng nói chanh chua của cô giáo, không một trẻ nào dám hé môi cãi lại. Trong tư cách là cha sở họ đạo - với ý thức sâu xa về hiểm họa cộng sản vô thần - tôi thường quy tụ các trẻ em nơi nhà thờ vào mỗi ngày Chúa nhật để dạy giáo lý cho chúng. Tôi đặc biệt chuẩn bị cho chúng xưng tội và rước lễ lần đầu. Sau đó tôi luôn nhắc nhở và hướng dẫn chúng thường xuyên lãnh nhận hai Bí Tích này.

Điều đáng nói ở đây là cô giáo Gertrude như được quỷ thần trợ lực, khiến cô có thể nhận ra tức khắc, đứa học trò nào sáng hôm đó đã rước Mình Thánh Chúa! Cô lăng mạ, chửi rủa và không để các trẻ đó một phút yên thân! Trong số các trẻ nữ nổi bật bé Angèle, 10 tuổi. Angèle rất thông minh, luôn dẫn đầu lớp. Nhưng bé không bị bạn bè ghen tương vì bé ngoan hiền và luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ các bạn.

Một ngày, Angèle đến xin tôi cho phép cô bé được rước lễ hàng ngày. Tôi nói: “Con có biết rõ điều con xin đưa đến hậu quả nào không”. Bé trả lời: “Con nghĩ là cô ấy khó lòng bắt lỗi con được. Trái lại, con sẽ học hành chăm chỉ hơn nữa. Ngày nào con được rước CHÚA GIÊSU, ngày đó con cảm thấy mình có sức mạnh hơn. Rồi cha bảo con phải làm gương sáng. Mà để làm gương sáng, con cần được CHÚA GIÊSU ban cho con sức mạnh”!

Tôi chấp nhận lời xin của bé Angèle nhưng trong lòng mang nhiều lo lắng.

Kể từ ngày đó, lớp học trở thành hỏa ngục đối với cô bé mảnh khảnh ngoan hiền Angèle. Dầu có thuộc bài, làm bài giỏi giang thế nào đi nữa, bé vẫn bị cô giáo hết lời nguyền rủa. Angèle trở thành đích điểm lăng mạ của cô giáo. Ngày nào cô bé cũng bị cô giáo gọi lên hạch hỏi đủ mọi chuyện, với thâm ý bắt bí cô bé, khiến bé luôn câm miệng! Thật ra đây chỉ là một trò chơi vừa ác độc vừa bần tiện. Bởi lẽ, trong trận chiến, người thắng trận vẫn luôn luôn là cô giáo!

May mắn thay, bé Angèle vẫn can đảm đứng vững, ngày ngày đương đầu với sức tấn công vũ bão của cô giáo .. Bỗng nhiên một sớm một chiều, bé Angèle trở thành trẻ nữ nổi tiếng trong làng. Bé là biểu tượng cho sức mạnh tinh thần, cho kho tàng đức tin mà hết mọi tín hữu Công Giáo Hung-gia-lợi cố gắng bảo tồn.

Đúng ngày 17 tháng 12 năm đó, cô giáo Gertrude bèn nghĩ ra một trò chơi ác độc, với dụng ý tiêu diệt hoàn toàn các tâm tình tôn giáo của các trẻ nữ đối với Ngày lễ Giáng Sinh linh thiêng và trọng đại. Sáng hôm đó, như thường lệ, cô gọi bé Angèle lên đứng trên bục. Sau đó cô lần lượt chất vấn bé: “Nếu mẹ em gọi em thì em làm gì?”. Angèle trả lời: “Nếu mẹ gọi thì em đến”. – “Em đến vì em hiện hữu. Nhưng nếu mẹ gọi ông già râu xanh hay cô bé quàng khăn đỏ thì những người này có đến không?”, cô giáo hỏi tiếp. Angèle rụt rè trả lời: ”Những người này không đến vì họ chỉ là những nhân vật trong chuyện thần thoại”. Cô giáo đắc chí nói: “Em trả lời thật thông minh. Vậy thì, nếu bây giờ em gọi CHÚA GIÊSU Hài Đồng, Chúa có nghe tiếng em không?”. Như được sức mạnh thiêng liêng trợ giúp, Angèle bỗng mạnh dạn nói: “Có, em tin là CHÚA GIÊSU Hài Đồng nghe tiếng em gọi”.

Cô giáo Gertrude hí hửng vì thấy bé Angèle rơi vào tròng thâm hiểm của cô. Cô trịnh trọng nói với cả lớp: “Bây giờ chúng ta làm thử. Mọi người cùng kêu to: Xin CHÚA GIÊSU Hài Đồng đến. Một, hai, ba ... ”. Cả lớp cúi đầu im lặng như tờ. Cô giáo cười đắc thắng nói: “Thấy chưa? Không ai dám gọi vì các em biết rằng CHÚA GIÊSU Hài Đồng không đến. Chúa không đến vì Chúa không hiện hữu, giống như không có ông già râu xanh hay cô bé quàng khăn đỏ!”

Bỗng chốc, như được thông truyền sức mạnh, bé Angèle phóng nhanh đến đứng giữa lớp và nói: “Nào, chúng mình cùng mời Chúa đến. Tất cả cùng nói: Xin CHÚA GIÊSU Hài Đồng hãy đến!”. Trong nháy mắt, cả 31 trẻ nữ đồng loạt đứng lên, chắp tay trước ngực và cùng kêu lên: “Xin CHÚA GIÊSU Hài Đồng hãy đến!”

Và phép lạ đã xảy ra. Mọi ánh sáng trong phòng như được dồn về chỗ cửa ra vào. Cánh cửa từ từ mở ra. Ánh sáng lan rộng rực rỡ và trở thành bầu lửa. Rồi trong bầu lửa xuất hiện một Hài Nhi mặc áo trắng tinh. Hài Nhi chỉ mĩm cười khoan dung với các trẻ nữ, nhưng không nói lời nào. Sau đó, Hài Nhi biến đi cùng với bầu lửa. Cánh cửa từ từ khép lại.

Bỗng một tiếng thét kinh hãi vang lên. Cô giáo Gertrude, - đôi mắt lộn trồng, gương mặt thất thần - hét lớn: “Chúa đã đến! Chúa đã đến thật!”. Thét xong, cô đâm đầu chạy ra khỏi lớp và đóng sập cửa lại!

Câu chuyện đến tai tôi và trong tư cách là linh mục chính xứ, tôi có thể quả quyết rằng: “Chuyện đã xảy ra thật đúng theo lời các trẻ nữ kể lại”.
Về phần cô giáo Gertrude, cô bị mất trí và được đưa vào nhà thương điên.

4. XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY: BÁNH THÁNH THỂ.

... Câu chuyện xảy ra tại một vùng đất mang tên Trung Hoa Lục Địa, ngay sau khi đảng cộng sản lên nắm chính quyền. Nhà nước ra lệnh càn quét bách hại các tín hữu Kitô, đặc biệt là tín hữu Công Giáo.

Nơi trường tiểu học của một họ đạo, chị Euphrasie, nữ tu thừa sai người Pháp, dạy giáo lý cho một nhóm trẻ người Hoa, chuẩn bị xưng tội và rước lễ lần đầu.

Trước khi bắt đầu buổi học giáo lý, tất cả các trẻ cùng đứng nghiêm trang, khoanh tay lại và đọc Kinh LẠY CHA. Trong nhóm trẻ, có một bé gái tên Li. Bé thầm nghĩ: “Có lẽ đây là lần cuối cùng mình còn được tự do đọc kinh to tiếng như thế này! Đâu có ai biết trước được tương lai rồi sẽ ra sao .. Đây đó nghe xầm xì những cuộc bách hại khủng khiếp! Chúa ơi!”. Nghĩ thế nên bé Li chú tâm đọc rõ từng tiếng: “Lạy Cha chúng con ở trên trời. Chúng con nguyện danh Cha cả sáng .. Xin Cha cho chúng con hôm nay bánh ăn hằng ngày.”

Bé Li ít khi ăn bánh mì. Thức ăn hằng ngày là cơm. Vì thế, có lần trong giờ giáo lý, cô bé thắc mắc hỏi chị Euphrasie: “Thưa Dì, sao CHÚA GIÊSU không dạy chúng ta đọc: Xin Cha cho chúng con hôm nay cơm ăn hàng ngày?”. Bị hỏi bất ngờ, chị nữ tu hơi lúng túng. May mắn thay, mặc dầu không phải là nhà thần học giỏi giang, nhưng với tấm lòng vàng, chị Euphrasie tìm lời giải thích: “Bởi vì .. bởi vì .. bánh mì cũng có nghĩa là Bánh Thánh Thể! Con nhớ xin CHÚA GIÊSU cho con được rước lễ hàng ngày. Để nuôi xác, con cần cơm ăn. Nhưng để nuôi linh hồn - có giá trị gấp ngàn lần thân xác - con cần có Bánh Hằng Sống, tức là Bánh Thánh Thể Chúa Giêsu!”. Bé Li ghi khắc trong con tim ngây thơ trong trắng lời giải thích của chị Euphrasie.

Tháng 5 năm đó, bé Li được hồng phúc rước lễ lần đầu. Bé thì thầm với CHÚA GIÊSU Bé Nhỏ đang ngự trong lòng: “Xin Chúa luôn luôn ban cho con bánh ăn hằng ngày, để linh hồn con được sống và sống mạnh khoẻ”. Từ sau khi rước lễ lần đầu, mỗi buổi sáng, bé Li đều thức dậy đi lễ để được rước CHÚA GIÊSU Bé Nhỏ vào lòng. Mỗi ngày, bé tha thiết cầu xin Chúa đừng để những người hung ác ngăn cấm bé rước CHÚA GIÊSU, bởi vì, bé nói: “Con đâu làm được gì, nếu không có Chúa?”

Một buổi sáng, đang giờ học, bỗng cánh cửa ra vào bị mở tung, rồi năm người đàn ông mặc đồng phục hùng hổ bước vào. Một người ra lệnh: “Mọi người phải giao nộp tất cả các ảnh thờ quấy. Nhà nước không dung thứ cho ai tôn thờ ngẫu tượng, tà thần!”

Các học sinh sợ hãi, hết lấm lét nhìn 5 người mặc đồng phục lại nhìn nữ tu Euphrasie, đang đứng im bất động như bước tượng gỗ! Nhưng rồi các em hiểu rõ lệnh truyền, đành phải thi hành. Tất cả lần lượt giao nộp các ảnh thánh Chúa và Đức Mẹ. Bé Li cũng miễn cưỡng từ từ rút ra các ảnh thánh. Nhưng riêng bức ảnh CHÚA GIÊSU, Đấng Chăn Chiên Nhân Lành, ẵm một chiên con trên vai, là bé Li yêu thích nhất. Đây là bức ảnh kỷ niệm ngày bé rước lễ lần đầu. Bé muốn dấu bức ảnh, thay vì giao nộp. Bé vội kín đáo gấp bức ảnh làm đôi và nhét vào chiếc áo trong. Nhưng hành động này không qua mặt viên công an trưởng. Ông tức giận hét lớn: “Đồ nhãi con! Bé tí xíu mà đã dám lường gạt đại quốc Trung Hoa! Hãy truy lùng tức khắc người cha của đứa bé phản động này!”

.. Chỉ vỏn vẹn một khắc đồng hồ sau, bé Li và cha bé bị còng tay và bị dẫn vào nhà thờ, đông nghẹt dân làng. Trước đôi mắt kinh hãi của mọi người, viên công an chửi rủa, rồi ra lệnh mở tung Nhà Tạm, ném Chén Thánh xuống đất, khiến Mình Thánh Chúa rơi vung vãi trên mặt nhà thờ. Xong, ông trịnh trọng ra lệnh: “Từ nay, không ai được bén mãng tới nhà thờ này. Nếu bất tuân, sẽ bị tuyệt mạng!”

Mọi người lặng lẽ ra về. Các tín hữu Công Giáo lòng đau như cắt, thì thầm đọc kinh phạt tạ, đền bù hành động phạm thánh .. Ngôi nhà thờ trở nên vắng lặng như sa mạc. Người ta tưởng không còn một bóng người nào. Nhưng thực tế không phải như vậy. Trên trần nhà thờ, một vị thừa sai người Pháp đang ẩn núp. Đó là cha Luca. Chính cha kể lại những gì xảy ra sau đó.

Sáng tinh sương ngày hôm sau, cửa nhà thờ nhẹ nhàng mở ra và một bé gái 10 tuổi, len lén đi vào. Đến nơi có Mình Thánh Chúa bị tung rớt, bé quỳ xuống, lấy lưỡi rước một bánh lễ. Bé quỳ yên lặng cầu nguyện một lúc rồi rón rén ra về. Trông thấy cảnh tượng đó, cha Luca đau thót trong lòng. Cha thầm thì cầu xin đừng ai trông thấy bé Li.

Cảnh tượng trên đây tái diễn mỗi buổi sáng, cho đến Bánh Thánh cuối cùng. Sáng hôm đó, như thường lệ, bé Li rón rén đi thẳng lên cung thánh. Nhưng một tiếng súng chát chúa vang lên. Một người lính núp nơi cánh cửa, giơ súng bắn thẳng vào người bé. Bé gục xuống trên vũng máu. Cha Luca tưởng bé đã tắt thở, nào ngờ cha trông thấy bé cố gắng trườn lên chỗ có Bánh Thánh rồi giơ lưỡi rước Bánh Thánh cuối cùng. Rước xong, bé uốn mình một cái, rồi thân thể giãn ra. Bé Li đã trút hơi thở cuối cùng. Bé đã cứu tất cả các Bánh Thánh.

5. XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY.

... “Các con đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ ấy, dân ngoại vẫn tìm kiếm. CHA các con trên trời thừa biết các con cần tất cả những thứ đó. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ ban thêm cho các con” (Mt 6,31-33).

VI. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON

1. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.

... Một hôm, bác nông dân cùng làng đến gặp tôi và than thở: “Tôi đang xây chuồng cho súc vật. Khi xây bức tường bên này lên tới một chiều cao nào đó, thì bức tường bên kia bỗng sụp xuống. Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng địa thế mà không tìm ra nguyên nhân. Hẳn có một bàn tay vô hình quấy phá chúng tôi! Tôi phải làm gì bây giờ?”

Tôi hỏi lại: “Có lẽ một người quá cố nào đó, có điều gì bất bình với bác và vẫn còn nuôi mối hận thù với bác chăng?”. Bác liền kêu lên: “Phải rồi! Đúng thế! Tôi cũng ngờ ngợ như bà vậy. Đích thị ông ấy rồi! Giờ này đã nằm sâu trong lòng đất, mà ông ta vẫn không để cho tôi yên!”. Tôi ôn tồn nói: “Hẳn là, ông ta chỉ muốn xin bác một điều: tha thứ cho ông ta. Có vậy thôi!”. Nghe tôi nói thế, bác nông dân quắc mắt nhìn tôi, giọng thét ra lửa: “Bà bảo sao? Tôi phải tha thứ cho ông ấy à? Tha thứ cho tất cả những điều khốn khổ ông ta gây ra cho tôi ư? Tha thứ để ông ta được bay thẳng về Trời sao? Không! Không! Ngàn lần không! Giờ thì ông ấy phải ráng mà đền bù mọi tội lỗi mình!”.

Tôi trấn an bác: “Không dễ dầu gì mà ông ấy bay về Trời ngay đâu! Ông ấy phải đền bù tất cả những lầm lỗi và thiệt hại ông ấy gây cho bác. Nhưng, nếu bác thật lòng tha thứ cho ông ta, ông ta sẽ chấp nhận hình phạt cách dễ dàng hơn. Vã lại, bao lâu bác chưa tha thứ cho ông ta, thì ông ta cũng sẽ không để yên cho bác làm ăn đâu!”

Dầu tôi lý luận cách nào, vẫn không làm cho bác nông dân nguôi giận. Sau cùng, tôi nói: “Thế tại sao hàng ngày bác lại đọc kinh LẠY CHA, trong đó có câu: Xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con?. Đúng ra bác phải thưa với Chúa: ”Đừng tha nợ cho con, như con cũng không tha kẻ có nợ con!”

Bác nông dân tỏ ra tư lự .. Một hồi lâu, bác lúng túng thú nhận: “Thật ra, bây giờ, tôi mới hiểu rõ ý nghĩa của lời kinh LẠY CHA tôi đọc hàng ngày!”

Tôi tiếp tục thuyết phục bác. Sau cùng, thu hết can đảm, bác dõng dạc tuyên bố: “Vâng, nhân danh Thiên Chúa, tôi muốn tha thứ hầu Thiên Chúa cũng tha thứ cho tôi!” (Theo lời kể của bà Maria Agatha Simma, sống tại Sonntag, Áo quốc).

2. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.

... Ngày 5-10-1984, Frédéric bị đưa ra xử tại tòa án thủ đô Paris, nước Pháp, vì tội sát nhân. Án mạng xảy ra trước đó hai năm, ngày 9.11.1982. Frédéric - 21 tuổi - đã tàn nhẫn giết chết Chantal, cô bạn gái đoan trang. Lý do: Chantal đã cương quyết không chìu theo những ước muốn đê hèn của Frédéric.

Hôm ấy, cả cha mẹ của Frédéric lẫn cha mẹ của Chantal đều có mặt nơi phòng xử. Lên tiếng trước tòa, ông Vincent, thân phụ của Chantal, nói: “Tôi muốn tuyên bố với quý vị là tôi đã tha thứ cho Frédéric lâu lắm rồi, kể từ sau khi xảy ra án mạng. Giờ đây, chính Frédéric là người cần được giúp đỡ hơn ai hết, bởi vì, chính Frédéric mới là người mang thương tích nặng nề nhất!”

Khi tuyên bố như thế, ông bà thân sinh của Chantal không muốn kết án hay kiện tụng Frédéric. Quyết định của cha mẹ nạn nhân khiến cho các thẩm phán, luật sư và toàn cử tọa ngỡ ngàng xúc động. Ông Vincent nói tiếp: “Tôi xin miễn nói lên nổi buồn sâu xa của chúng tôi vì bị cướp mất đứa con gái thân yêu. Tôi chỉ muốn nói rằng: giờ đây con gái chúng tôi đang sống trong niềm vui và trong ánh sáng. Hoàn cảnh của chúng tôi không giống hoàn cảnh của cha mẹ Frédéric. Tôi đã cầu nguyện thật nhiều để cuộc đời còn lại của Frédéric không bị uổng phí và hư hỏng thêm.

Tiếp lời chồng, bà Catherine - mẹ của Chantal - nói: “Khi nhận hung tin con gái bị giết, tôi thật sự xúc động. Ý tưởng đầu tiên của tôi khi nghĩ về Frédéric: “thật đáng thương!”. 10 tháng sau vụ thảm sát, Frédéric đã viết thư xin tôi tha thứ cho Frédéric. Dĩ nhiên là chúng tôi đã tha thứ cho Frédéric rồi!”..

Ngồi nơi chỗ bị cáo, Frédéric lặng lẽ khóc. Tất cả mọi người có mặt nơi tòa đều xúc động. Thẩm phán đoàn cũng xúc động. Vị trưởng đoàn thẩm phán ra lệnh ngưng phiên tòa.. Khi phiên tòa tái nhóm, bà Catherine lên tiếng gợi lại hình ảnh cô thiếu nữ quá cố: “Chantal rất nhiệt tình và quảng đại. Con gái tôi ước muốn giúp đỡ người thanh niên mà nó cảm thấy là bị mất quân bình, không có hướng đi.. Nhìn từ bên ngoài, ai cũng thấy rằng Frédéric đã si tình con gái tôi. Frédéric có cái nhìn không bình thường, của một kẻ sống khép kín trong thế giới riêng tư của mình”..

Sau khi ông bà thân sinh nạn nhân bày tỏ, đến lượt cha mẹ của bị cáo lên tiếng. Cha ghẻ của Frédéric đau đớn thú nhận: ‘Tôi rất tiếc không sớm nhận ra nổi đau buồn của Frédéric”. Bà mẹ Frédéric đấm ngực ăn năn: “Tôi là người chịu trách nhiệm nặng nề trong vụ án mạng này. Một hôm, Chantal gọi điện thoại cho tôi và nói: “Xin bác hãy để ý chăm sóc Frédéric cách riêng!”. Nhưng tôi đã không hiểu rõ ý Chantal muốn nói gì. Giờ đây tôi hiểu rằng, làm cha mẹ thật là khó khăn. Đây là nghề duy nhất mà chúng tôi không được học hỏi”.

Frédéric bị kết án 5 năm cấm cố. Chiếu theo luật, Frédéric là người lên tiếng sau cùng. Bằng giọng run run, Frédéric trình bày: “Con ý thức rõ điều con đã làm không thể cứu vãn được nữa. Niềm ao ước sâu xa của con trong lúc này đây, là được sống xứng đáng với sự tha thứ của cha mẹ Chantal, người bạn gái đầu đời của con” ..

3. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.

... Câu chuyện xảy ra tại thành Bologna, Trung Bắc nước Ý. Một phụ nữ quý tộc trong thành, - tạm gọi tên bà Claudia -, góa bụa và chỉ có đứa con trai duy nhất. Không cần nói cũng hiểu bà yêu thương chìu chuộng con biết chừng nào. Thiếu niên tên Andrea. Andrea thường thích nô đùa với các bạn cùng tuổi nơi công viên thành phố.

Ngày kia, một người lạ mặt đi ngang qua đó và quấy phá cuộc chơi của lũ trẻ. Andrea thét lên phản đối: “Ông không được xen vào trò chơi của chúng tôi!”. Người lạ mặt bỗng dưng nổi giận. Ông tuốt gươm đâm chết cậu tại chỗ. Nhìn cái xác bất động và lưỡi gươm vấy máu, người đàn ông đâm hoảng sợ. Ông cho gươm vào vỏ và tìm đường tẩu thoát. Ông chạy như bay qua các đường phố. Trông thấy cánh cửa một căn nhà mở rộng, ông nhanh chân lách mình vào để ẩn trốn.

Đó là căn nhà của bà Claudia, mẹ cậu Andrea. Kẻ sát nhân chạy nhanh lên cầu thang, vào đúng căn phòng của người phụ nữ quý tộc. Bất thình lình đối diện với người lạ, trên tay cầm gươm vấy máu, bà Claudia hoảng sợ chết điếng. Người lạ vội vàng khẩn khoản: “Nhân danh Thiên Chúa, xin bà thương chỉ cho tôi một chỗ ẩn núp, tránh khỏi những người đang lùng bắt tôi. Xin bà đừng giao nộp tôi cho họ”. Động lòng trắc ẩn, bà Claudia chấp thuận chỉ cho người lạ một nơi trú ẩn an toàn và hứa sẽ không phản bội lòng nhân từ.

Cảnh sát biết tên sát nhân đã chạy vào nhà bà Claudia nên họ xông vào nhà xin lục soát. Họ tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không trông thấy dấu vết gì .. Trước khi rời nhà, cảnh sát nói với bà Claudia: “Bà có biết người chạy vào đây ẩn trốn, chính là tên sát nhân đã giết chết Andrea, quý tử duy nhất của bà không?”. Nghe mấy lời này, bà Claudia xúc động, ngã xuống bất tỉnh.

Khi bà hồi tỉnh, người ta tưởng chừng bà không thể nào sống được, vì tin dữ quá mạnh! Nhưng bà Claudia là một phụ nữ quý tộc đạo đức. Bà phó thác mọi sự nơi Bàn Tay Quan Phòng của Thiên Chúa Chí Công. Nhờ thế, bà tìm được một nguồn sức mạnh vô biên, giúp bà thắng vượt được thử thách. Bà Claudia lặng lẽ đến chỗ trú ẩn của kẻ sát nhân, trao cho ông một số tiền. Bà chỉ cho ông ta một lối thoát kín, nơi có sẵn con ngựa, ông có thể dùng để cao bay xa chạy..

Xong xuôi đâu đó, bà Claudia trở lại phòng riêng, quỳ gối trước tượng ảnh Thánh Giá, đọc kinh cầu cho linh hồn đứa trai yêu dấu. Bỗng chốc, bà Claudia trông thấy Andrea xuất hiện, mặt mũi sáng rực, chiếu tỏa một niềm hạnh phúc bao la. Cậu Andrea nói như reo vui với mẹ:

“Mẹ ơi, con báo cho mẹ tin vui! Xin mẹ đừng khóc nữa. Xin mẹ đừng thương tiếc cho số phận hẩm hiu của con. Trái lại, xin mẹ hãy vui mừng. Bởi vì, nhờ đức bác ái mẹ thực thi với kẻ giết con, mà con đã được giải thoát ngay khỏi Lửa Luyện Ngục. Đáng lý con bị Thiên Chúa Chí Công phạt đền trong Lửa Luyện Tội lâu năm. Nhưng vừa khi mẹ thi hành xong hành động bác ái, tức khắc, con được xóa bỏ mọi tội lỗi và không phải đền bù. Hiện tại con đang được diễm phúc ở bên tòa Chúa trên Thiên Đàng và con sẽ ở lại đây mãi mãi!”

Tin vui của quý tử quá cố gieo vào lòng bà Claudia một niềm vui khôn tả. Bà quên hết mọi nổi niềm đau khổ vì mất con. Bà dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã tha thứ cho con và đưa con vào hưởng vinh phúc muôn đời.

4. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.

.. Ông Francis Bullay, một tín hữu Công Giáo Hoa Kỳ. Ông gợi lại kinh nghiệm khổ đau trong thời chiến và tâm tình tha thứ của một cựu tù nhân. Ông nói:

Trong thế chiến thứ hai, tôi đã trải qua những trại tù lao động và trại tập trung khủng khiếp nhất. Khi chiến tranh chấm dứt và được phóng thích, tôi vội tìm đến sứ quán Mỹ ở thành phố Hannover, thuộc Cộng Hòa liên bang Đức. Vừa nhìn thấy lá cờ Hợp Chủng Quốc, tôi đứng bất động như bị trời tròng. Tôi đứng im như thế không biết trong bao lâu. Tôi chiêm ngắm lá cờ đang bay phất phới, tượng trưng cho tự do và nhân phẩm.. Lòng tôi xúc động bồi hồi, nhưng tuyệt nhiên, tôi không nhỏ một giọt nước mắt! Suốt trong bốn trại tù khổ sai tôi đã sống, không một tù nhân nào khóc. Tù nhân chúng tôi không bao giờ khóc! Đau khổ quá độ làm cho chúng tôi mất hết nhạy cảm. Chúng tôi giống như những con thú. Mà thú vật đâu có khóc bao giờ! Trong khi chiêm ngắm lá quốc kỳ, tôi không khóc, nhưng thầm nhủ: “Giá mà lá cờ không treo quá cao, hẳn là tôi sẽ âm yếm cầm lấy nó mà hôn, hôn, hôn”. Tôi hết lòng ghi ơn Thiên Chúa đã cho tôi được sống sót, để giờ đây trông thấy lại lá cờ Hợp Chủng Quốc thân yêu!.. Trong thời gian bị quân Đức giam cầm, nếu trông thấy lá cờ Hoa Kỳ, chắc chắn tôi sẽ thu hết can đảm để cầm lấy nó mà hôn! Cho dù có sự hiện diện của mấy tên công an đức quốc xã đi nữa, tôi vẫn âu yếm hôn, trìu mến hôn lá cờ!

Khi trở lại Hoa Kỳ, tôi sung sướng cảm thấy mình là một người được tự do, hoàn toàn tự do. Lòng tôi bỗng dâng lên Thiên Chúa niềm tri ân sâu xa. Tôi thầm nghĩ: “Hết mọi công dân Mỹ phải bày tỏ lòng ghi ơn Thiên Chúa, vì đã làm cho Hoa Kỳ trở thành một nước tự do”! Trong vòng mấy năm trời, tôi vui hưởng bầu khí tự do nơi quê hương.

Nhưng rồi thất vọng xảy đến. Khi trở về Hoa Kỳ sau thời gian bị giam cầm nơi các trại tập trung của quân đức quốc xã, người ta nói cho tôi biết là nước Đức sẽ bồi thường thiệt hại cho các cựu tù nhân. Tôi liên lạc với các văn phòng có liên hệ tới thế chiến thứ hai tại thủ đô Washington. Nhưng liên lạc này tiếp nối liên lạc khác mà vẫn hoàn toàn vô ích. Tôi không nhận được ngân khoản bồi thường nào về phía chính phủ Đức cũng như về phía chính quyền Hoa Kỳ.. Tôi hoàn toàn thất vọng và bỏ rơi cuộc chạy theo các ngân khoản bồi thường.

Tôi ra sức lao động để có tiền sinh sống. Nhưng một buổi tối kia, tôi bị một tên côn đồ chặn đường đánh tôi trọng thương. Tôi bị mù một con mắt. Tai nạn xảy ra làm tôi đau đớn và khóc ròng, khóc như một đứa con nít! Tôi cay đắng thầm nghĩ: “Tên côn đồ này phải bị trừng phạt! Tôi là một tín hữu Công Giáo. Tôi có thể tha thứ. Nhưng tôi cũng biết rằng, chúng ta phải tôn trọng công lý”. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 đã sẵn sàng tha thứ cho tên ám sát ngài. Nhưng Đức Thánh Cha đã để cho công lý trừng phạt tên sát nhân!

Nếu ngày hôm nay, một tên cai tù sát khí đức quốc xã của trại lao động khổ sai, hay một tên mật vụ đức quốc xã đến gặp tôi và nói: Francis à, xin anh hãy tha thứ cho những điều tàn ác tôi đã làm cho anh, thì tôi sẽ trả lời như thế này: Tận trong thâm tâm, tôi đã tha thứ cho anh từ lâu lắm rồi, bởi vì tôi là một tín hữu Công Giáo. Chính đức tin và Giáo Hội Công Giáo đã dạy tôi phải tha thứ. Nhưng nếu một tòa án chiến tranh đòi tôi phải đến làm chứng, thì tôi sẽ kể lại tất cả những điều tàn ác mà các ông đã làm cho bọn tù nhân chúng tôi..

Trên đây tôi đã thành thật nói lên tất cả những điều tôi cảm nghĩ. Đồng thời, tôi dâng lên Thiên Chúa niềm tri ân vô bờ của tôi, niềm tri ân của một người con nhận được muôn vàn ơn lành từ Người Cha nhân từ dấu yêu là Thiên Chúa.

5. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.

.. Đêm thứ sáu rạng ngày thứ bảy 11-5-1991, cha Jean-Luc Cabes từ Lộ Đức lái xe về nhà xứ Tarbes, Tây Nam nước Pháp. Khi xe vào sân, chiếc đèn pha bỗng vô tình rọi sáng cảnh tượng hai thiếu niên đang ăn cắp một chiếc xe đậu trong sân. Cha Jean-Luc liền tìm cách ngăn cản. Nhưng một trong hai thiếu niên - 17 tuổi - rút dao và đâm vào người cha. Cha gục ngã trên vũng máu. Cha được đưa vào nhà thương và trút hơi thở vài giờ sau đó, hưởng dương 35 tuổi.

8 năm sau biến cố đau thương này, thân mẫu cha Jean-Luc gợi lại câu chuyện và bày tỏ lòng tha thứ đối với thiếu niên sát nhân. Kẻ sát nhân giờ đây là thanh niên 25 tuổi. Anh ra khỏi tù hồi tháng 9 năm 1998, sau 7 năm đền bù tội lỗi.

Thân mẫu cha Jean-Luc Cabes nói: Lúc 3 giờ sáng hôm ấy, khi bước vào bệnh viện, nhà tôi và tôi hiểu ngay tình hình nghiêm trọng. Tôi liền xin mọi người đang có mặt trong phòng đợi hãy giữ thinh lặng. Tôi nhớ là mình cảm nhận một sự hiện diện mạnh mẽ trong tôi. Ngay khi ấy, có một điều gì đó nhắc nhở tôi rằng: phải tỏ ra can cường để làm chứng cho đức tin của tôi. Chính lúc cầu nguyện trong thinh lặng đó mà tôi nhớ lại bài ca ALLELUIA, hát trong thánh lễ truyền chức linh mục cho Jean-Luc. Bài hát có câu: “Đấng Bị Đóng Đinh đã sống lại và sai con đi làm chứng cho niềm vui Phục Sinh của Ngài”. Câu hát cứ trở đi trở lại trong đầu óc tôi, nhưng phần sau được đổi thành: ”để làm chứng cho niềm tin của con”.

Vừa khi chúng tôi được bước vào phòng của cha Jean-Luc, tôi xin mọi người cùng lần hạt Mân Côi, suy niệm Mầu Nhiệm Mừng. Giờ đây, khi nhớ lại diễn tiến của biến cố, tôi nhận thấy rằng: chính giây phút cầu nguyện sốt sắng ấy đã gây một ảnh hưởng tích cực cho những gì xảy ra sau đó. Theo một nghĩa nào đó, chính sự cầu nguyện đã chuẩn bị tâm lòng chúng tôi sẵn sàng tha thứ cho kẻ sát nhân. Tôi thầm nhủ: “Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng tôi. Đến phiên mình, chúng tôi cũng phải tha thứ cho người khác”. Tôi không ngừng nhớ lại các câu Phúc Âm như: Tôi tớ không trọng hơn chủ hoặc Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.

Tôi không bao giờ than trách về sự ra đi đột ngột và thảm thương của con mình. Tôi tự nhủ: kẻ giết chết cha Jean-Luc là một thiếu niên đáng thương. Nó đã giết chết cha, nhưng tôi không thể tin rằng đó là ý muốn của Thiên Chúa. Tôi sẽ không bao giờ có thể hiểu được tại sao con tôi lại bị giết chết như thế. Tôi không thể hiểu và cũng không tìm kiếm lý do tại sao. Chuyện đã xảy ra rồi. Điều tôi biết, chính là Thiên Chúa cũng đau khổ với chúng tôi trong biến cố sầu thảm này. Tôi đã không bao giờ phản loạn chống lại Thiên Chúa nên cũng không hề chống lại con người. Tôi không thể nào trách cứ Chúa, sau khi đã nhận lãnh không biết bao nhiêu tình thương và ơn lành từ Bàn Tay Quan Phòng của Ngài. Ngay cả cái chết thê thảm của cha Jean-Luc cũng không tách lìa tôi khỏi tình thương Thiên Chúa. Tôi không thể phản loạn chống Thiên Chúa, bởi vì tôi tin nơi Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng đã chết vì chúng ta. Có nhiều người không hiểu tại sao chúng tôi đã có thể tha thứ cho kẻ sát nhân. Phần tôi, tôi cũng không thể giải thích tại sao. Tôi chỉ biết rằng, tôi tha thứ vì tôi có đức tin. Ngay từ thời thơ ấu, tôi đã thấm nhuần các câu Phúc Âm. Tuổi thơ tôi đã trải qua nhiều giai đoạn bi thảm. Tôi mồ côi cha năm lên 7 tuổi. Sau đó, một người anh qua đời vào năm 15 tuổi. Mẹ tôi, một người đàn bà nhà quê, đã bị thử thách nhiều với các biến cố đau thương ấy. Nhưng tôi như còn trông thấy trước mắt cảnh mẹ tôi cầm chuỗi, lần hạt Mân Côi, mỗi ngày trên đường từ đồng trở về nhà. Hình ảnh đó in đậm trong suốt cuộc đời tôi.

Đối với tôi, thiếu niên giết chết cha Jean-Luc chỉ là một người kém may mắn, không được giáo dục đàng hoàng. Vì thế, anh ta không đáng bị kết án tù chung thân. Nếu chúng ta được Chúa tha thứ thì đến phiên mình, chúng ta cũng phải tha thứ cho người khác.

6. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.

... Yannick, một tín hữu Công Giáo người Pháp. Anh là nạn nhân của vụ mưu sát bằng chất nổ nơi một xe điện ngầm ở thủ đô Paris, vào ngày 3-12-1996. Yannick kể lại:

Một tiếng nổ dữ dội, rồi toàn wagon bốc lửa cháy lớn. Tôi cũng bị cháy và bị đưa vào nhà thương nằm nơi “phòng cách biệt” dành cho những người bị phỏng nặng. Trong cô đơn và trong những đêm dài mất ngủ, tôi thường cay đắng tự hỏi: “Tại sao nạn nhân lại là mình?”

Những ngày nằm nhà thương là một chuỗi dài những cuộc giải phẫu, săn sóc khẩn trương, rồi giải phẫu. May mắn thay tôi là một tín hữu Công Giáo sống đạo. Lúc nhỏ, tôi là chú bé giúp lễ. Lớn lên, tôi giữ nhiệm vụ đánh đàn trong nhà thờ cho các buổi cử hành Phụng Vụ Thánh. Trong thời gian thử thách này, tôi thường nghĩ đến Chúa và cám ơn Chúa vì Ngài đã cứu tôi thoát chết, mặc dầu tôi bị phỏng nặng và bị kinh hoàng vì cuộc mưu sát!

Ngày hôm nay, tôi có thể tha thứ cho những người đã gây ra vụ mưu sát, mặc dầu tôi không biết họ là ai. Phải, tôi thật lòng tha thứ cho họ và tôi cũng xin Chúa tha tội cho họ nữa.. Chắc chắn là tôi không bao giờ quên được nổi kinh hoàng của vụ mưu sát, nhưng tôi cám ơn Chúa vì đã ban cho tôi đức tin. Nhờ thế mà trong cơn thử thách, tôi vẫn có thể nghĩ đến Chúa và cầu nguyện cùng Chúa. Chính lòng tin tưởng nơi Chúa đã giúp tôi vượt thắng được đau khổ.

Tiếp theo sau lòng tri ân Thiên Chúa là tâm tình ghi ơn người yêu của tôi. Tôi hy vọng nàng sẽ trở thành vợ tôi. Nàng thăm viếng chăm sóc tôi hàng ngày. Tôi cũng không quên những người thân trong gia đình, đã luôn luôn gần gũi tôi trong lúc tôi gặp hoạn nạn.

Ngày nay, mỗi khi nhớ lại vụ mưu sát, tôi chỉ muốn coi nó như là một tai nạn. Trong tâm tình của một tín hữu Công Giáo, tai nạn đã giúp đức tin của tôi chín mùi. Từ sau tai nạn đó, tôi cầu nguyện và nghĩ đến Chúa nhiều hơn, thường xuyên hơn lúc trước. Vâng, ngày hôm ấy, Thiên Chúa ở với tôi và chính Ngài đã giơ tay cứu sống tôi. Ngày hôm nay, tôi biết nhìn các biến cố cuộc đời với đôi mắt bình thản hơn.

Sau những tháng ngày sầu khổ và thử thách, Thiên Chúa cho tôi hiểu rằng: “Người ta không thể chấp nhận tất cả, hiểu hết mọi điều, nhưng người ta có thể tha thứ tất cả”!

“Các con đã nghe Luật dạy rằng: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Còn Thầy, Thầy bảo các con: “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện con để lấy áo trong của con, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài.. Các con đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo các con: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con. Như vậy, các con mới được trở nên con cái của CHA các con, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương. Vì nếu các con yêu thương kẻ yêu thương mình, thì nào các con có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các con có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy các con hãy nên hoàn thiện, như CHA các con trên trời là Đấng Hoàn Thiện” (Mt 5,38-48).

7. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.

Tất cả mọi người đều là kẻ có tội, cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Tất cả mọi người đều là kẻ mắc nợ. Nợ vật chất và nợ thiêng liêng. Ngay cả nợ luân lý nữa. Nợ vật chất liên quan đến tiền của và đồ dùng, người ta cho mình mượn và mình phải hoàn lại. Nợ luân lý liên quan đến sự ngưỡng mộ người ta đòi hỏi mà mình lại không sống xứng đáng, hoặc tình thương người ta kêu cầu mà mình lại không trao ban. Nợ thiêng liêng liên quan đến việc phải tuân phục Thiên Chúa. Thiên Chúa đòi hỏi rất nhiều, nhưng con người đáp trả rất ít, hoặc không mảy may đáp lại. Thiên Chúa yêu con người bằng tình thương vô bờ, nhưng con người lại dửng dưng, vô tình hoặc tệ bạc. Đó là món nợ khổng lồ con người mắc nợ Thiên Chúa. Rồi con người lại mắc nợ người khác bằng những món nợ thiêng liêng tương tự. Khi con người không yêu thương và phụng dưỡng cha mẹ. Khi con người lỗi nghĩa anh em, bè bạn. Khi con người không giúp đỡ những người đang cơn túng thiếu, đang cần nâng đỡ ủi an. Và, khi con người không yêu thương anh chị em đồng loại.

Ai ai cũng là kẻ mắc nợ, không cách này thì cách khác: mắc nợ Thiên Chúa và mắc nợ tha nhân. Vì thế, người khôn ngoan nhất là người khoan dung, không bao giờ kết án, nhưng luôn luôn tha thứ cho người khác. Tha thứ để được Thiên Chúa thứ tha. Vô phúc cho người không biết tha thứ, bởi lẽ, người đó cũng sẽ không được Thiên Chúa thứ tha. Phúc cho người biết tha thứ vì họ sẽ được Thiên Chúa thứ tha.

VII. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ

1. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ

Thiên Chúa không bao giờ cám dỗ loài người làm điều xấu. Ngài chỉ mời mọc con người làm điều thiện và ban cho con người vạn sự lành để lôi kéo con người về với Ngài. Thiên Chúa không “nhử” điều xấu để “thử lòng” con người. Không. Thiên Chúa là Cha Nhân Lành ngự trên Trời cho phép điều xấu xảy ra, nhưng Ngài không dựng nên nó. Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện, từ nơi Ngài xuất phát mọi điều lành. Nhưng Sự-Dữ hiện hữu. Nó xuất hiện vào lúc Lucifer nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Từ đó con người có bổn phận biến Sự-Dữ thành Sự-Lành, chiến thắng Sự-Dữ và khẩn nài Thiên Chúa Cha ban sức mạnh để có thể chiến thắng Sự-Dữ. Đó là ý nghĩa lời Kinh CHÚA GIÊSU dạy con người đọc: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”.

Con người van xin Thiên Chúa ban cho nhiều sức lực để có thể chống cự với chước cám dỗ. Không có sự trợ giúp của Thiên Chúa, con người sẽ bị chước cám dỗ bẽ gập, bởi lẽ, chước cám dỗ mạnh như vũ bão trong khi sức lực con người vô cùng yếu ớt. Nhưng nếu con người biết khiêm tốn kêu cầu cùng Thiên Chúa thì: Ánh Sáng Chúa Cha soi chiếu con người, Quyền Lực Chúa Cha tăng sức cho con người, Tình Yêu Chúa Cha bảo vệ con người, khiến Sự-Dữ tan biến và con người được giải thoát, được sống trong tự do.

... Trưa Chúa Nhật 24-4-1994, trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 đã nhắc lại Kinh cầu cùng Thánh Tổng Lãnh Thiên-Thần Micae, do Đức Lêô 13 phổ biến trong toàn Giáo Hội hồi cuối thế kỷ 19. Đức Thánh Cha nói: “Mặc dù ngày nay, Kinh này không còn được đọc vào cuối mỗi thánh lễ nữa, nhưng tôi mời gọi tất cả anh chị em đừng quên Kinh này, nhưng hãy đọc Kinh ấy để được ơn phù trợ trong cuộc chiến với những lực lượng của tối tăm và chống lại thần dữ của thế gian này”.

Đức Lêô 13 làm Chủ chăn Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ từ 1878 đến 1903. Nguồn gốc lời Kinh cầu cùng thánh Tổng Lãnh Thiên-Thần Micae do Đức Lêô 13 soạn, đã được cha Domenico Pechenino thuật lại trong tờ “Ephemerides Liturgicae”, xuất bản năm 1955:

“Tôi không nhớ rõ năm nào. Vào một buổi sáng, sau khi dâng thánh lễ nơi nhà nguyện riêng, Đức Thánh Cha Lêô 13 còn quỳ lại, vừa tham dự thánh lễ do một linh mục cử hành, vừa đọc kinh tạ ơn, theo thói quen ngài vẫn làm. Bỗng chốc, người ta trông thấy Đức Thánh Cha ngẩng hẳn đầu lên, nhìn đăm đăm một vật gì đó, bên trên đầu vị linh mục đang dâng thánh lễ. Đức Thánh Cha chăm chú nhìn, không chớp mắt. Diện mạo ngài thay đổi khác thường, lúc tỏ lộ nổi kinh hoàng khủng khiếp, lúc lại diễn tả niềm vui mừng thán phục. Một điều gì đó, vừa lạ kỳ, vừa cao cả đang xảy ra trước mắt vị Giáo Hoàng. “Cuối cùng, như sực tỉnh trở về với chính mình, Đức Lêô 13 vừa nhẹ nhàng vừa cương quyết, chống tay và đứng thẳng người lên. Ngài bái gối, bước ra khỏi nhà nguyện, đi thẳng về phòng làm việc. Mọi người trong phủ giáo hoàng có mặt sáng hôm đó, lo lắng đi theo Đức Giáo Hoàng và hỏi: “Tâu Đức Thánh Cha, có phải Đức Thánh Cha cảm thấy mệt không? Đức Thánh Cha có cần gì không?”. Đức Lêô 13 trả lời nhanh: “Không. Không cần gì hết”. Nửa giờ sau, Đức Giáo Hoàng bảo gọi vị Tổng thư ký Bộ các Nghi Lễ đến, trao cho một tờ giấy, truyền phải in ra và gửi cho tất cả các Giám Mục trong Giáo Hội Công Giáo trên toàn thế giới. Tờ giấy này chứa đựng điều gì? Thưa đó là 2 Kinh, vị linh mục phải đọc cùng với toàn cộng đoàn dân Chúa, sau thánh lễ. Đức Thánh Cha Lêô 13 muốn rằng: Sau thánh lễ, vị linh mục quỳ dưới chân bàn thờ, bắt đầu đọc 3 kinh Kính Mừng, một kinh Lạy Nữ Vương, và đọc: “Lạy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin cầu cho chúng con. Đáng chịu lấy những sự Chúa Kytô đã hứa”.. Rồi đọc Kinh thứ nhất: “Lạy Chúa là Đấng Bàu Chữa cùng là Thần Lực chúng con, xin Chúa ái tuất đoái thương, mà nhậm lời dân Chúa đang kêu thấu Chúa; và cậy vì Đức Nữ Đồng Trinh Maria hiển vang và khiết tịnh, Đức Mẹ Chúa Trời, cùng vì Thánh Cả GIUSE, Bạn Thánh Người, và hai thánh Tông Đồ Chúa Phêrô và Phaolo, cùng các thánh nguyện giúp cầu thay, thì chúng con mới dám xin Chúa lân mẫn nhân từ khấng nhậm lấy những lời chúng con cầu khẩn nguyện xin, cho kẻ có tội được biết đàng ăn năn trở lại, cho Hội Thánh là Mẹ chúng con được tự do an bình thịnh trị. Vì công nghiệp Chúa GIÊSU KITÔ là Chúa chúng con. Amen”. Kinh thứ hai cầu cùng Thánh Tổng Lãnh Thiên-Thần Micae:

“A Thánh Micae Tổng Lãnh Thiên-Thần, xin tiếp giúp chúng con trong cơn hiểm chiến; lại xin hộ vực cho chúng con lướt thắng mưu sâu chước hiểm của ác quỉ tà ma. Chúng con sấp mình cúi nguyện xin Đức Chúa Trời giam cầm chế trị nó, cùng xin Tổng Lãnh Đạo Binh Thiên Quốc, thừa chưng thần oai thánh lực Chúa Trời, mà hạ ngục cấm cố Satan cùng các quỉ dữ đang rảo quanh thế giới mà nhiễu hại linh hồn thiên hạ. Amen”.

Đến thời Đức thánh Giáo Hoàng Pio 10 (1903-1914), ngài truyền đọc thêm ba lần:
“Chúng con kính lạy Rất Thánh Trái Tim Đức CHÚA GIÊSU. Xin hãy thương xót chúng con”.

2. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ

Con người phải khẩn khoản kêu van sức mạnh Thiên Chúa trợ giúp, để có thể chiến thắng ma-quỷ, chiến thắng Satan. (SATAN là tên gọi của LUCIFER, sau khi Thiên Thần ánh sáng này biến thành thần lực tối tăm). Satan là tướng các quỉ. Chính hắn là chước cám dỗ khiêu khích xác thịt, tinh thần và con tim. Chính hắn là tên Quyến-Rũ. Con người khó thoát khỏi nanh vuốt của nó. Vì thế con người phải cầu xin Thiên Chúa sai Tổng Lãnh Thiên-Thần Micae đến trợ giúp cùng với Thánh Thiên-Thần Bản-Mệnh. Thánh Phêrô Tông Đồ viết: “Anh chị em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma-quỷ / thù địch của anh chị em / như sư-tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh chị em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh chị em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế” (1Phêrô 5,8-9).

Thêm vào đó, con người phải cương quyết dùng ý chí để thắng vượt các cơn cám dỗ, đẩy xa các chước cám dỗ. Trong một nghi thức trừ quỉ, tên quỉ bị bắt buộc thú nhận rằng: “Tôi đạt đến mọi điều tôi muốn, ngoại trừ 'con chó ý-chí', nó khiến tôi không làm ăn gì được!”. Phải, nếu con người không ưng thuận, không chìu theo các chước cám dỗ thì ma-quỉ đành chào thua, bó tay thất trận!

... Tháng 6 năm 1562, thánh nữ Têrêxa CHÚA GIÊSU, hay còn gọi là Têrêxa thành Avila, hoàn tất cuốn “Tự Thuật”, viết theo lệnh cha giải tội. Nơi chương 31, thánh nữ đặc biệt nói về công hiệu của Nước-Thánh, hay Nước-Phép, đối với ma-quỷ, trong kinh nghiệm của chính cuộc đời thánh nữ. Thánh nữ Têrêxa Avila viết:

“Một ngày, khi con ở nhà nguyện, tên quỷ hiện ra đứng bên trái con, dưới hình dạng trông thật ghê tởm. Đặc biệt khi nhìn cái miệng hắn nói, thì ôi thôi, trông thật kinh khiếp. Người ta có cảm tưởng một ngọn lửa lớn phát ra từ thân thể cháy sáng của hắn. Bằng một giọng nghe thật hãi hùng, hắn nói với con rằng, con được cứu khỏi tay hắn, nhưng rồi thế nào hắn cũng bắt được con. Con sợ hãi vô cùng, liền giơ tay làm dấu Thánh Giá. Tên quỷ biến mất, nhưng trở lại ngay sau đó.. Hắn biến đi rồi trở lại, đến hai lần như thế. Thú thật, con không biết phải làm thế nào để đuổi tên quỷ đi. Trong nhà nguyện có để Nước-Thánh, con bèn lấy Nước-Thánh và rảy vào chỗ tên quỷ đứng. Lần này hắn biến đi và không trở lại nữa..

“Một lần khác, trong vòng 5 tiếng đồng hồ liên tục, ma-quỷ hành hạ con bằng đủ mọi cách: đau đớn thể xác và bấn loạn tâm thần. Cơn hành hạ mạnh đến nỗi con tưởng chừng mình không thể chịu đựng được lâu hơn nữa. Các nữ tu hiện diện cũng kinh hãi và không biết phải làm gì. Phần con, con cũng không biết phải làm thế nào để chống cự với ma-quỷ. Thường thì khi nào bị đau đớn thể xác quá độ, con vẫn cố gắng cầu nguyện, van xin Chúa ban cho con sự nhẫn nhục, và nếu là Thánh Ý Chúa, thì Chúa có thể để cho con chịu đau khổ như vậy đến tận thế. Nhưng lần này, cơn đau đớn mạnh đến nỗi, làm tê liệt cả những ý hướng tốt lành của con. May mắn thay, Chúa tỏ cho con biết: cơn hành hạ này do ma-quỷ gây ra, bởi vì ngay lúc đó, con thấy một đứa bé đen thui trông thật ghê tởm, đứng bên cạnh con. Thằng nhỏ lằm bằm giận dữ tỏ vẻ tuyệt vọng, như bị cướp mất vật mà nó tưởng đã nắm chắc được.

“Khi trông thấy thằng nhỏ đen đủi xấu xí, con bỗng bật cười và không còn sợ hãi nữa. Tuy thế, ma-quỷ vẫn tiếp tục hành hạ thân xác con bằng những cú đấm đá dữ dằn.. Con không dám xin các nữ tu có mặt mang Nước-Thánh đến cho con, vì sợ các chị không hiểu lý do, rồi đâm ra hoang mang vô ích..

“Con từng kinh nghiệm: chỉ nguyên Nước-Thánh thôi, đủ để đuổi ma-quỷ chạy trốn và không bao giờ dám trở lại nữa. Ma quỷ cũng sợ Thánh Giá và trốn mất, nhưng trở lại sau đó. Công hiệu của Nước-Thánh quả thật lớn lao!. Phần con, niềm an ủi tâm hồn con cảm nhận được, mỗi khi con dùng Nước-Thánh, thật đặc biệt và đáng kể. Con không biết diễn tả thế nào, nhưng mà, mỗi khi con sử dụng Nước-Thánh, y như con được giải khát, được cảm thấy ngọt ngào và an ủi trong tâm hồn. Điều đó không do trí tưởng tượng con bày vẽ ra, vì công hiệu này không chỉ xảy ra một lần, nhưng thường xuyên, khiến con phải đặc biệt chú ý. Giống như thể một người bị nóng nực, bị khát nước, mà lại được uống một ly nước thật mát, cảm thấy được đả khát vậy. Đối với con: Tất cả những gì Hội Thánh truyền dạy thật cao trọng. Thật thích thú khi thấy rằng, lời linh mục đọc khi làm phép nước, quả đem lại một sức mạnh phi thường, vì có một sự khác biệt vô cùng rộng lớn giữa Nước được làm phép và nước không được làm phép!

“Do đó, vì thấy các cơn đau đớn vẫn không giảm bớt chút nào, con liền xin các nữ tu có mặt mang Nước-Thánh đến cho con. Các chị đi lấy và rảy trên người con, nhưng vẫn không công hiệu. Thấy thế, con liền lấy Nước-Thánh và rảy chính nơi tên quỷ đứng, tức khắc tên quỷ chạy trốn ngay, và mọi nổi đau đớn của con cũng biến mất. Con rút ra kết luận: Dầu một linh hồn và một thân xác không thuộc về ma-quỷ, nhưng ma-quỷ vẫn xin được phép của Chúa để làm khổ chúng ta.. Vậy nếu chúng ta không thuộc về chúng, mà chúng hành hạ chúng ta như thế, thử hỏi, khi chúng ta lọt vào tay chúng, chúng sẽ hành hạ chúng ta đến mức độ nào nữa? Ý tưởng này khiến con nhất quyết không bao giờ để mình rơi vào vòng tay của một tên hèn hạ, bần tiện, bẩn thỉu và đáng kinh tởm là ma quỷ!!”..

Kinh nghiệm của thánh nữ Têrêxa thành Avila, Nữ Tiến Sĩ Hội Thánh, khuyến khích mỗi gia đình Công Giáo, nên giữ Nước-Thánh được linh mục làm phép trong nhà. Chấm Nước-Thánh làm dấu Thánh Giá mỗi sáng thức dậy, trước khi đến trường, đến sở làm việc và chiều tối, trước khi lên giường ngủ. Đây là thói quen lành thánh, nhắc nhở sự hiện diện và sự trợ giúp của Thiên Chúa trong cuộc sống, đối lại với những quấy phá của ma-quỷ.

Ông James Dibello, người Mỹ gốc Ý, nói về Thiên-Thần Bản-Mệnh:

Tôi thuộc về một gia đình Công Giáo đạo đức. Nơi căn nhà cha mẹ tôi tại bang Indiana, Hoa Kỳ, chúng tôi dành chỗ cho các Thiên-Thần. Vào các ngày lễ lớn, bà nội tôi người Ý, dọn thêm một chỗ trên bàn ăn, dành cho Thiên-Thần Bản-Mệnh. Dịp sinh nhật của ai, người đó phải dọn thêm một chỗ cho vị Thiên-Thần Bản-Mệnh của mình. Bà tôi giải thích: “Đây là cách thức bày tỏ lòng ghi ơn đối với Thiên-Thần Bản-Mệnh và xin Ngài tiếp tục gìn giữ trong tuổi mới bắt đầu. Tôi thật lòng tin tưởng nơi sự hiện diện và trợ giúp của các Thiên-Thần. Một trong các Kinh tôi học thuộc lòng trong tuổi thơ: “Lạy Thiên-Thần Chúa là Đấng chăm sóc con, xin Thiên-Thần soi sáng, trông coi, nâng đỡ và điều khiển con, là kẻ được chính Lòng Nhân Hậu Chúa trao phó cho Thiên-Thần gìn giữ. AMEN”

Tại trường học, các nữ tu cũng giảng cho chúng tôi biết về các Thiên-Thần. Mỗi khi đến nhà thờ tham dự thánh lễ, chúng tôi thường nhường cho Thiên-Thần Bản-Mệnh bước vào ghế quỳ trước. Các nữ tu cũng dạy chúng tôi đọc lời Kinh tương tự như trên: “Lạy Thiên-Thần Chúa là đấng gìn giữ con. Xin Thiên-Thần soi sáng tâm trí con, gìn giữ trái tim con, nâng đỡ thân xác con và hướng dẫn con, vì con được Tình Yêu Thiên Quốc giao phó cho Thiên-Thần chăm sóc. Amen”.

3. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” là lời cầu biểu lộ lòng khiêm tốn. Con người cảm nhận mình yếu đuối, dễ sa chước cám dỗ, nên khẩn khoản van xin Thiên Chúa trợ giúp. Khiêm-Nhường là viên đá nền tảng xây dựng tòa nhà thiêng liêng. Khiêm-Nhường là nhân đức đầu tiên dẫn đến sự trọn lành. Nếu bị sỉ nhục, con người nên hân hoan chấp nhận, vì đó là dịp tốt rèn luyện nhân cách.
Trước các chước cám dỗ, con người không nên lo lắng và hốt hoảng. Cám dỗ không phải là đổ nát. Trái lại, nếu con người biết khiêm tốn khẩn nài Thiên Chúa trợ giúp để chiến thắng ba thù: ma-quỷ, xác-thịt và thế-gian, chắc chắn con người sẽ đánh bại SATAN. “Hào-quang” các vị đang hưởng vinh phúc trên Trời lóng lánh các “hạt-ngọc” chiến thắng các cơn cám dỗ! Không nên tìm kiếm các chước cám dỗ - các dịp phạm tội - nhưng cũng không nên hèn nhát khi các chước cám dỗ xuất hiện. Mỗi khi bị cám dỗ, con người nên khiêm tốn kêu van cùng Thiên Chúa: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”.

... Cha Germano Ventura, thuộc dòng Thương Khó, gốc người đảo Sardegna, miền Nam nước Ý. Từ năm 1960, cha thi hành tác vụ trừ quỷ trong giáo phận thủ đô Roma. Trước đó, cha thi hành tác vụ này tại Toscana ở đảo Sicilia, Nam Ý. Chính cha kể lại kinh nghiệm chiến đấu, đối diện từng ngày với ma-quỷ.

“Ngày còn là linh mục trẻ, tôi được giao nhiệm vụ ban phép lành cho các bệnh nhân, đến nhà thờ tu viện chúng tôi. Một ngày, người ta mang đến cho tôi một người tê liệt ngồi trên ghế lăn. Vừa giơ tay vẽ hình Thánh Giá ban phép lành, tức khắc người bệnh la hét, chửi bới và vùng vẫy. Xong, anh ta té nhào xuống, nằm thẳng đơ trên nền nhà thờ. Những người thân của anh kinh hãi, vội mang anh đi và đợi cho anh lắng dịu, mới mang anh trở lại nhà thờ. Nhưng khi tôi giơ tay ban phép lành, thì thảm kịch tái diễn: anh la hét, chửi bới và vùng vẫy... Thân nhân anh ngạc nhiên trước phản ứng dữ dội của anh. Đối với họ, cho đến lúc này, anh là một người hiền lành và đạo đức ..

“Phần tôi, đây là lần đầu tiên trong đời, đối diện với một trường hợp lạ lùng như thế. Tôi nhớ lại những điều đã học trong đại chủng viện và thầm nghĩ: “Có lẽ anh này bị quỷ ám. Cần phải làm phép trừ quỷ”.

“Tôi liền trình bày với Bề Trên nhà để xin Đức Giám Mục sở tại ban phép thi hành nghĩa vụ trừ quỷ. Sau nhiều khó khăn, chúng tôi được Đức Giám mục đồng ý và tôi bắt đầu ngay nghi thức trừ quỷ.

“Cuộc chiến thật khủng khiếp. Nhưng sau một tuần lễ liên tục trừ quỷ, tôi đuổi được tên quỷ ra khỏi người bệnh. Lạ lùng thay, khi tên quỷ vừa đi, người bệnh cũng hết tê liệt. Thì ra bệnh tật thể xác là do tên quỷ ám hại gây nên.

“Trường hợp đầu tiên gặp thấy trong đời linh mục trẻ, khiến tôi miên man nghĩ ngợi. Cùng lúc đó, tin đồn tôi chữa lành một người bệnh tê liệt cũng lan nhanh trong vùng. Người ta bắt đầu mang bệnh nhân đến xin tôi đặt tay ban phép lành. Sau đó tôi còn giải quyết được mấy vụ quỷ ám nữa. Thấy thế, các Đấng Bề Trên quyết định giao cho tôi trọng trách trừ quỷ.

“Khi trừ quỷ, tôi luôn luôn thi hành công tác trong tư cách là linh mục và nhân danh Giáo Hội đã ủy thác cho tôi nhiệm vụ này. Tôi tha thiết cầu xin Thiên Chúa, Đức Mẹ và Các Thánh trợ giúp tôi. Và như Phúc Âm quả quyết, Thiên Chúa luôn luôn đáp lời con cái nài van.

“Tôi thường bắt đầu nghi thức bằng cách ban phép lành, rảy Nước-Thánh và giơ cao Thánh Giá CHÚA GIÊSU cho bệnh nhân. Nếu bệnh nhân có phản ứng kỳ lạ như run lẩy bẩy, chửi bới, đe dọa, tìm cách tẩu thoát hoặc nhảy bổ vào cấu xé vị linh mục, tôi hiểu người bệnh bị quyền lực vô hình điều khiển. Đây có thể là trường hợp bị quỷ ám thực sự.

“Ma-quỷ có thể phá hại con người bằng nhiều cách: ám ảnh, quấy phá, qua trung gian bùa ngãi hoặc ám hại thực sự. Có nhiều người mắc những chứng bệnh kỳ lạ, chạy chữa đủ mọi phương thuốc nơi đủ mọi y sĩ, nhưng bệnh vẫn hoàn bệnh. Sau cùng họ đến với tôi. Tôi làm phép trừ quỷ, tức khắc bệnh tật biến tan. Điều này cho thấy những chứng bệnh kỳ lạ là do ma-quỷ gây ra. Một điều quan trọng trong khi thi hành tác vụ trừ quỷ: vị linh mục trừ quỷ cần có thái độ luôn luôn điềm tĩnh, trước tất cả những hiện tượng quái dị do ma-quỷ tác động nơi người bị ám hại. Bởi vì, nếu vị linh mục tỏ ra sợ hãi, tức khắc ma-quỷ không tuân lệnh vị linh mục trừ quỷ nữa..

“Từ trước đến giờ, tôi vẫn dè dặt mỗi khi phải chính thức đề cập đến vấn đề quỷ ám và trừ quỷ với giới báo chí, vì đây là một vấn đề hết sức tế nhị. Nhưng nay, tôi nghĩ khác. Ma-quỷ hiện diện khắp nơi và luôn tìm cách quấy phá, ám hại con người: cuộc sống, thể xác và tinh thần. Hơn ai hết, chúng tôi là những linh mục trừ quỷ, hàng ngày đối đầu với quỷ dữ, chạm trán với những trường hợp ám hại thương đau, chúng tôi cần phải nói to, nói rõ cho mọi người biết về sức tung hoành tàn phá của quỷ dữ, và nhất là, minh chứng cho mọi người thấy, quyền năng lớn lao của Giáo Hội khi nhân danh CHÚA GIÊSU và Đức Mẹ để trừ quỷ ..

“Các tín hữu kytô cần ý thức sâu xa rằng, khi gặp những trường hợp nan giải, mắc những chứng bệnh kỳ lạ, không y sĩ nào giải thích được và không phương thuốc nào chữa trị được, họ nên tìm đến với linh mục, hỏi han ý kiến của Ngài. Chỉ có linh mục, nhân danh Giáo Hội và dùng những phương thức của chính Giáo Hội, mới giải thoát con người khỏi những bệnh tật do sức phá hoại của ma-quỷ. Trong mọi trường hợp, người Công Giáo không được phép chạy đến với thầy pháp, thầy phù thủy, hoặc với những bà đồng bóng”.

4. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ

Có lẽ không bao giờ nhấn mạnh đủ về việc thực thi nhân đức khiêm nhường trong cuộc sống người tín hữu, đặc biệt khi đối diện với thử thách, với cám dỗ. “Khôn ba năm, dại một giờ” là lời nhắn nhủ khôn ngoan nhất, khuyên con người luôn luôn cẩn trọng, bởi vì, sức lực con người mỏng dòn, yếu ớt biết bao! Vì thế, không bao giờ nên cậy dựa vào sức mình, nhưng chỉ nên đặt trọn niềm tín thác nơi sự trợ giúp của Thiên Chúa mà thôi!

... Lá thư sau đây do một linh mục hồi tục, viết cho Cha Werenfried Van Straaten (1913-2003), sáng lập viên tổ chức “Trợ Giúp các Giáo Hội đau khổ”. Khi phổ biến lá thư trong nguyệt san “Le Christ au monde - Chúa Kytô trong thế giới, số ra tháng 2 năm 1992, Cha Werenfried nhận định: “Lá thư làm tôi liên tưởng đến lời CHÚA GIÊSU thổ lộ với một tâm hồn: “Than ôi, có cả nhiều người mang theo chức linh mục xuống tận hỏa ngục”. Chúng ta hãy cầu nguyện để nhiều người biết noi gương sự hồi tâm thống hối của vị linh mục hồi tục, tác giả bức thư được trích đăng dưới đây”.

“Cha đáng kính. Sau nhiều tháng ngày do dự, con quyết định viết thư này cho Cha để cám ơn Cha và khuyến khích Cha trong công tác tông đồ của Cha. Trước kia con là một tu sĩ và hiện tại con là một người, mà người ta gọi là “linh-mục có-vợ, hay linh-mục hồi-tục”. Trước kia, con cũng là một trong những người không tin có ma-quỷ. Lòng đầy kiêu căng, con thường công kích những truyền thống của Giáo Hội. Nhưng bây giờ, con thực sự tin có ma-quỷ!
“Con có thể quả quyết với Cha: con đã từng muốn tự tử. Nhưng nhờ gặp được một người khuyên bảo, vợ con và con lại bắt đầu lần hạt, và chính tràng chuỗi Mân Côi đã cứu vớt chúng con ra khỏi vực thẳm tuyệt vọng.. Lá thư ngắn ngủi này không thể nào diễn tả hết thảm trạng tâm hồn con. Đối với con, mỗi ngày là một chiến đấu với tuyệt vọng, với ghê tởm, với cay đắng, với hận thù, chen lẫn với niềm ao ước hoán cải, đền tạ và tha thứ. Đối với con, xác quyết rằng: CHÚA GIÊSU, trong tình thương vô bờ của Người, vẫn còn tìm kiếm và đưa chúng con về với Ngài, quả là một phép lạ của lòng nhân từ không thể hiểu được!. Cá nhân con, con đau đớn kinh nghiệm rằng: điều những quan niệm cấp tiến về thần học có thể làm cho một người, là biến người đó thành người con của hư mất (mất linh hồn)!. Đức Giáo Hoàng đã so sánh chúng con với Giuđa. Con tin là Ngài có lý, và con ghi ơn Ngài đã nhắc chúng con nhớ đến một thực tại đau lòng! Con cũng ghi ơn Cha, vì Cha đã dám bênh vực và đứng về phía Đức Gioan Phaolo 2, vị Giáo Hoàng thánh thiện của thời đại chúng ta.

“Con xin phép Cha nêu ra vài lý do giải thích thái độ của con và của nhà con: chúng con bị mù quáng bởi Satan và bởi tính kiêu căng của chúng con. Chúng con nghĩ rằng mình góp phần canh tân Giáo Hội, nhưng thực ra chúng con đã phá đổ Giáo Hội, ngôi nhà của Thiên Chúa. Chúng con tưởng mình là người hùng, nhưng thực ra, chúng con là nô lệ của thần dữ, của Satan! Và điều gì phải đến đã đến: tính kiêu căng, lòng tham dục, sự thiếu khiêm nhường và vâng lời, đã làm nghiêng cán cân. Kết quả con bỏ áo tu, từ chức linh mục! May mắn Chúa cho con còn có thể đền tội. Con không ao ước Giáo Hội chấp nhận trở về với chức vụ linh mục, vì chúng con không xứng đáng, nhưng con hy vọng một ngày kia, con có thể sống đời chay tịnh hãm mình đền tội, với chiếc áo dòng của một trợ sĩ, trong một đan viện nào đó. Con phó thác và tin tưởng nơi bàn tay của Chúa Quan Phòng, vì cho đến nay, ơn thánh Chúa đã không bao giờ từ bỏ con.

“Xin Cha đừng mất giờ trả lời cho con. Nhưng có thể, lá thư viết từ một linh mục hồi tục, mang lại cho Cha ít nhiều nâng đỡ trong công tác tông đồ của Cha. Con thiết nghĩ, có rất nhiều linh mục ở trong tình trạng của con, cùng nghĩ như con, nhưng không dám diễn tả cho mọi người biết. Con đường trở lại bao giờ cũng gồng ghềnh và chông gai. Xin Chúa ban cho tất cả chúng con được ơn sớm trở về với Ngài, trước khi quá muộn. Trong thời gian xôn xao rối loạn này, con thầm nghĩ: lòng kính mến Chúa Kytô, Mẹ Maria và lòng trung thành với Đức Thánh Cha là những yếu tố căn bản cho cuộc sống của những tín hữu chân chính. Xin Cha cầu nguyện cho chúng con, vì chúng con rất cần lời cầu nguyện. Chúng con xin chia sẻ công tác mục vụ của Cha. Cha hoạt động để cứu giúp những người bị xiềng xích vì lòng tin của họ. Xin Cha cũng nhớ đến chúng con là những người bị gông cùm vì lòng bất trung của chúng con. Mỗi ngày, con vẫn đọc các “Giờ Kinh Phụng Vụ”, những lời kinh mà trước kia, khi còn là một tu sĩ con đã đọc chung với anh em trong cộng đoàn. Con tin rằng Chúa muốn cho con tiếp tục đọc kinh nhật tụng. Mỗi ngày, khi tham dự thánh lễ, con cầu cho Cha và cho tổ chức bác ái của Cha. Xin Thiên Chúa và Mẹ Maria chúc lành cho Cha”.

5. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ

... Xin trích dịch lời Kinh khẩn cầu sự trợ giúp của Thiên Chúa và toàn thể triều thần thiên quốc, trong trận chiến với ma-quỷ / xác-thịt / thế-gian. Lời Kinh được chính Giáo Hội cho phép mỗi tín hữu đọc riêng, như một nghi thức trừ quỷ tư.

Lạy Thiên Chúa trời đất, Thiên Chúa các Thiên Thần, Thiên Chúa các Tổng Lãnh Thiên Thần, Thiên Chúa các Tổ Phụ, Thiên Chúa các Tiên Tri, Thiên Chúa các Tông Đồ, Thiên Chúa các Vị Tử Đạo, Thiên Chúa các Hiển Tu, Thiên Chúa các Trinh Nữ, Thiên Chúa là Đấng có quyền ban sự sống sau cái chết, sự an nghỉ sau lao công; bởi vì, không có Thiên Chúa nào khác ngoài Ngài, cũng không hề có Thiên Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa là Đấng dựng nên muôn vật hữu hình và vô hình và triều đại Ngài vô cùng tận; chúng con khiêm tốn khẩn cầu Chúa dùng quyền uy cao cả Ngài mà giải thoát cùng ngăn ngừa chúng con khỏi bạo lực thần dữ hỏa ngục, khỏi mọi cạm bẫy, mưu toan và chước độc của tà thần. Nhờ Đức GIÊSU KITÔ Chúa chúng con. Amen.
Kẻo phải sa cạm bẫy ma quỷ, Xin Chúa giải thoát chúng con Xin cho Hội Thánh Chúa được phụng sự Chúa trong an bình và tự do, Xin Chúa nhậm lời chúng con Xin cho các kẻ thù của Hội Thánh bị dìm xuống: Xin Chúa nhậm lời chúng con. (Rảy Nước-Thánh nơi đang đứng đọc Kinh)

Nghi Thức trừ quỷ tư.

(Kinh này có thể đọc cầu cho chính mình hoặc cho người khác - mặc dầu ở xa - mỗi khi chúng ta làm dấu Thánh Giá và rảy Nước-Thánh. Chúng ta đọc Kinh trừ quỷ vào lúc bị cám dỗ nặng nề, khi gặp thử thách, lúc bị kẻ thù phá hoại, và nhất là, đọc để cầu cho bệnh nhân và những người sắp chết).

Nhân danh Đức GIÊSU KITÔ Chúa chúng tôi và nhân danh Trinh Nữ MARIA, ta truyền cho ngươi, hỡi thần xấu xa, hãy xéo đi khỏi chúng tôi và khỏi nơi đây và đừng dám bén mảng tái xuất hiện để cám dỗ chúng tôi cũng như làm hại chúng tôi. GIÊSU, MARIA (ba lần) Lạy Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin nâng đỡ chúng con trong trận chiến! Lạy các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh, xin phòng giữ chúng con khỏi mưu thâm chước độc của ma quỷ!

Nghi thức chúc lành

Nguyện phép lành của (+) Chúa Cha, tình yêu của (+) Chúa Con và sức mạnh của (+) Chúa Thánh Thần, sự bảo trợ hiền mẫu của Nữ Vương thiên quốc, sự trợ giúp của các Thánh Thiên Thần, sự cầu bầu của Chư Thánh ở cùng chúng con và đồng hành với chúng con trong mọi lúc và mọi nơi! Amen. Lạy Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin che chở chúng con trong cơn hiểm chiến và đừng để chúng con bị hư mất đời đời.
(+): làm dấu Thánh Giá.

VIII. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ, NHƯNG CỨU CHÚNG CON CHO KHỎI SỰ DỮ ..

1. MARIA: NỮ-TRINH CHIẾN THẮNG SATAN.

Lạy Cha chúng con ở trên Trời
xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.
Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời
cầu cho chúng con là kẻ có tội,
khi nầy và trong giờ lâm tử. Amen.

Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ: lời khẩn nguyện kết thúc kinh LẠY CHA. Khi nầy và trong giờ lâm tử: lời nài van chấm dứt kinh KÍNH MỪNG. Đó là hai lời cầu tha thiết nhất đối với thân phận con người: xin cứu khỏi sự dữ và sự chết. Hai lời cầu vừa sánh đôi vừa đồng nhất: sự chết là sự dữ. Sự chết không hẳn chỉ là cái chết thể xác, nhưng còn là cái chết tinh thần. Và chính cái chết thiêng liêng mới thập phần quan trọng. Đối với thể xác, thông thường, con người chỉ chết một lần. Nhưng đối với tinh thần, linh hồn con người có thể chết nhiều lần suốt quãng đời dương thế. Linh hồn chết khi phạm tội trọng, cắt đứt mọi ơn thánh là nguồn sống nuôi dưỡng. Tội trọng cũng cắt đứt mọi liên hệ thân tình với Thiên Chúa là Cha.

Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời là Nữ-Trinh Chiến Thắng Satan. Tín hữu Kitô nào biết luôn luôn khẩn nài Đức MARIA trợ giúp, sẽ thắng được sự chết thiêng liêng nơi cuộc sống trên trần gian; sẽ thắng được ma quỉ trong những giờ phút bị cám dỗ và sau cùng, sẽ chiến thắng chung cục sự chết vĩnh viễn vào giờ lâm tử. Như con thơ nép mình trong vòng tay che chở của mẹ hiền, lời cầu cùng Trinh Nữ Rất Thánh MARIA sẽ cứu tín hữu Kitô khỏi sức tấn công vũ bão của ba thù: ma quỉ, xác thịt và thế gian. Van xin Đức MARIA trợ giúp, tín hữu Kitô sẽ thoát được sự dữ, được lớn lên trong Chúa GIÊSU KITÔ và đi vào Vương Quốc hiển trị của Ngài. Nếu Đức KITÔ làm cho kẻ chết sống lại trong Ơn Thánh thì Đức MARIA sẽ ngăn cản sự chết khiến con người bị tách lìa khỏi Đức KITÔ.

Mỗi khi bị Satan quấy phá, khuấy động sự yên tĩnh của tâm hồn, đẩy đưa đến chỗ phạm tội mất lòng Chúa, hãy lập đi lập lại: Kính mừng MARIA, Mẹ Chúa GIÊSU, con phó thác nơi Mẹ. Lời nguyện tắt này có sức mạnh vô song đẩy xa quỉ dữ, vì được nối kết bằng hai danh thánh MARIA và GIÊSU. Nếu loài người biết kêu cầu danh thánh MARIA, hẳn sẽ được cứu rỗi. Mỗi tối trước khi ngủ tín hữu Công Giáo cũng không quên đọc: GIÊSU MARIA GIUSE, con xin dâng lòng con cùng sự sống con cho Ba Đấng. GIÊSU MARIA GIUSE, xin Ba Đấng giúp con trong giờ hấp hối. GIÊSU MARIA GIUSE, xin soi sáng phù hộ cùng cứu giúp chúng con. Amen.

Thánh Bênađô thành Clairvaux (1090-1153) là tổ phụ các đan sĩ Xitô và là người con ngoan của Trinh-Nữ MARIA. Xin trích dịch bài giảng ngài ca tụng danh thánh MARIA.

.. “Trinh-Nữ ấy tên là MARIA” (Lc 1,27). MARIA có nghĩa là Sao Biển - Stella Maris. Tên gọi Sao Biển vô cùng xứng hợp với Đấng vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ. Ví Đức MARIA với thiên thể là một sánh ví tuyệt hảo, bởi lẽ, tinh tú phát ra các luồng sáng mà vẫn không bị suy giảm thế nào, Trinh Nữ MARIA cũng không bị thiệt hại gì, khi sinh Con như thế. Cũng vậy, tia sáng không làm giảm bớt sức chiếu tỏa của ngôi sao thế nào, Người Con sinh ra cũng giữ nguyên nét toàn vẹn Trinh Nữ của Mẹ mình như thế. Mẹ đúng là Vì Sao cao sang nhà Giacóp, chiếu sáng khắp vũ trụ, rạng soi các tầng trời và xuyên tận vực thẳm. Mẹ cũng sáng soi toàn trái đất, sưởi ấm linh hồn hơn là thể xác, phát huy nhân đức và tiêu diệt tật xấu. Mẹ là Vì Sao huy hoàng mọc lên từ biển cả mênh mông, chói lọi nhờ công đức và rực sáng vì gương lành .. Hỡi bạn là người đứng xa đất chắc, bạn thấy mình bị lôi cuốn bởi sóng trần gian giữa bao phong ba bão táp, bạn đừng rời mắt tia sáng của Vì Sao đó nếu bạn không muốn chết chìm. Nếu mà cơn cám dỗ nổi lên, nếu mà đá ngầm nhô lên trên mặt đường bạn, bạn hãy nhìn sao, bạn hãy gọi Mẹ MARIA. Nếu mà bạn lao đao trên các đợt sóng kiêu ngạo, tham lam, nói hành, đố kỵ, bạn hãy nhìn sao, bạn hãy gọi Mẹ MARIA. Nếu mà tính giận, tính keo kiệt, tính thèm nhơ nhớp làm lung lay con thuyền hồn bạn, bạn hãy ngước mắt nhìn Mẹ MARIA. Nếu mà bị xáo trộn vì các tội tầy đình của bạn, xấu hổ vì những ô nhục của lương tâm bạn, kinh hãi vì sợ bị xét xử, bạn bắt đầu đắm mình trong sầu khổ, rơi dần xuống hố tuyệt vọng, bạn hãy nghĩ đến Mẹ MARIA. Trong nguy nan, lúc sầu khổ, khi băn khoăn, bạn hãy nghĩ đến Mẹ MARIA, bạn hãy kêu cầu Mẹ MARIA. Ước gì danh thánh MARIA không bao giờ lìa xa môi miệng bạn, tách rời khỏi con tim bạn; và để được Mẹ thương cầu bầu trợ giúp, bạn đừng quên bắt chước gương Mẹ. Bước theo Mẹ, bạn không lạc hướng; kêu cầu Mẹ, bạn không thất vọng; lĩnh ý Mẹ, bạn không sai lầm. Nếu Mẹ đỡ bạn, bạn sẽ không ngã; nếu Mẹ che chở bạn, bạn sẽ không sợ; nếu Mẹ dìu bạn, bạn sẽ không mệt; nếu Mẹ ủng hộ bạn, bạn sẽ đạt đến đích; như thế, nhờ kinh nghiệm cá nhân, bạn sẽ công nhận lời thiên sứ là đúng: “Trinh-Nữ ấy tên là MARIA” (Lc 1,27). (“Les plus beaux textes sur la Vierge Marie”, Editions du Vieux Colombier, 1949, trang 147).

2. XIN CHỚ ĐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ, NHƯNG CỨU CHÚNG CON CHO KHỎI SỰ DỮ ..

Nữ tu Geneviève de la Sainte Face (1869-1959) tức Céline Martin, là chị ruột của thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, nữ Tiến Sĩ Hội Thánh. Chị đã ghi lại những lời sau cùng của thánh nữ Têrêxa vào ngày 16-8-1897. Chị kể: Sáng hôm ấy, khi thức dậy thật sớm, con thấy gương mặt em Têrêxa trắng bạch và biến dạng vì quá đau đớn và sầu khổ. Em nói với con:

“Quỉ dữ đang ở cạnh em. Em không thấy nó, nhưng em cảm nhận sự hiện diện của nó. Nó dày vò em, nó dùng tay sắt giữ chặt em khiến em không trở mình được, nó tăng cơn đau hầu em phải tuyệt vọng .. Và em không thể nào cầu nguyện được. Em chỉ có thể nhìn lên Đức Mẹ và thưa: GIÊSU! .. Giờ đây em mới thấy lời Kinh Tối thật cần thiết: “ Xin giải cứu chúng con khỏi bóng ma của đêm đen”.

“Em cảm nhận một điều gì đó thật bí ẩn. Cho đến lúc này, em bị đau bên phía phải, nhưng Chúa hỏi em có muốn chịu đau khổ cho chị không, em liền thưa có. Ngay lúc ấy, em bị đau dữ dội bên phía trái .. Em hiểu rằng, em chịu đau khổ vì chị và tên quỉ không muốn!”.

Ngày 11-9-1897, thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu thổ lộ cùng Mẹ Agnès de Jésus (1861-1951) tức chị ruột Pauline: “Em có cần sợ quỉ dữ chăng? Theo em hình như không bởi lẽ em luôn làm mọi sự vì đức vâng lời”. (“Oeuvres Complètes de Thérèse de Lisieux”, Cerf/DDB, 1998, trang 1158+1126).

Sách Sáng Thế viết: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ .. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 1,27 + 2,7). Thiên Chúa dựng nên con người có xác có hồn. Chính “sinh khí” làm cho con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Như thế, lúc vừa được dựng nên, ông bà nguyên tổ loài người Ađam và Evà hẳn phải là cặp nam nữ thập toàn và tuyệt đẹp. Đẹp cả xác lẫn hồn, nhất là linh hồn. Linh hồn trinh nguyên, không mảy may dính vết bợn nhơ. Nhưng, nhưng, tức khắc Satan xuất hiện và làm xáo trộn tất cả.

Luxiphe là một trong những Thiên Thần tuyệt đẹp được Thiên Chúa dựng nên vui hưởng hạnh phúc thiên đàng. Nhưng Luxiphe đã ngỗ nghịch và kéo theo đoàn lũ đông đảo chống lại Thiên Chúa. Đoàn binh phản loạn tức khắc trở thành quỉ dữ bị trầm luân đời đời trong hỏa ngục. Vị Thiên Thần ánh sáng Luxiphe biến thành Satan tên tướng các quỉ dữ. Trong ngục tù muôn kiếp, Satan sùng sục nuôi mối hận phản Thiên Chúa. Như thế, sau tội đầu kiêu ngạo, Satan chồng chất muôn vàn tội lỗi, kéo dài từ ngàn năm này sang ngàn năm khác. Nhưng vì không thể trực tiếp báo oán Thiên Chúa, Satan liền tung chưởng sát hại loài người, thọ tạo của Thiên Chúa. Nạn nhân đầu tiên là hai nguyên tổ Ađam và Evà. Trong con tim thơ ngây trong trắng của đôi bạn đầu tiên, Satan đã châm ngòi thuốc độc: dâm dục, thù hận và kiêu căng. Từ đó, tinh thần con người bị nhiễm độc dược âm phủ. Và cũng từ đó, Satan cùng bè lũ quỉ dữ không buông tha con người. Chúng quyết một chiến một thắng với Thiên Chúa, bằng cách cám dỗ loài người phạm đủ thứ tội ác và kéo xuống hỏa ngục càng nhiều “bề tôi” càng tốt.

Cuộc chiến với quỉ dữ thật khủng khiếp, bởi nó đa dạng và vô cùng tinh vi. Vô phúc cho người nào lọt vào gọng kìm của chúng. Tên gọi Satan đồng nghĩa với: báo-thù, lừa-đảo, kinh-hoàng, chết chóc, phạm-thượng, dâm-dục, phá-hoại, và sau cùng, sự-dữ-mặc-xác-phàm.

Khi bị Satan xúi dục điều xấu, đừng dại dột “trả lời tay đôi” với nó, vì nó là tên ”ngụy biện” khét tiếng. Cũng đừng “chọc giận” Satan, chỉ cần nói với nó: Xéo đi, Satan, vì ta yêu mến Thiên Chúa và ta thuộc về Thiên Chúa. Bấy nhiêu đó thôi!

Khi bị ma quỷ cám dỗ, chớ vội hoảng sợ. Càng bị cám dỗ dữ dội càng chứng tỏ người ấy thuộc về Trời cao. Satan là tên tướng ghen-tương, thèm-thuồng và xảo-quyệt. Hắn thông minh tột bực. Hắn biết rõ phải tấn công ai. Nếu một người sống theo xác thịt, có tinh thần thế gian, quỷ dữ không cần nhọc công cám dỗ. Người ấy đã thuộc về Satan và tự giết hại linh hồn mình. Nhưng linh hồn nào đang trên đường ngay nẻo chính, muốn thuộc trọn về Chúa, linh hồn ấy mới lôi kéo sự chú ý của quỷ dữ. Nếu cần, Satan ra lệnh cho cả một đoàn lũ đến tấn công linh hồn ấy .. Ma quỷ thường tấn công trước tiên các Linh Mục. Bởi lẽ, một linh mục sa ngã, kéo theo nhiều linh hồn sa ngã. “Ngày nay các linh hồn rớt xuống hỏa ngục nhiều như các cụm tuyết rơi lả chả, vì họ thiếu gương lành của các linh mục”. Một linh mục bị trầm luân nơi hỏa ngục đã quả quyết như thế. Linh mục này còn cho biết lý do nào đã đưa mình vào lửa thiêu đốt đời đời:

“Khi một người không sống tử tế, không noi theo mẫu gương nghèo khó của Chúa Kitô, không thực thi các Nhân Đức của Ngài, không cầu nguyện, không yêu mến Thánh Giá, không từ bỏ, không hy sinh, không đạo đức, khi chỉ cần phạm một hoặc phạm tất cả những lỗi vừa nói thì ma quỷ liền tìm cách cám dỗ người ấy, đánh bại từ chính điểm yếu của người ấy .. Một Linh Mục có nhiều nguy cơ rơi xuống hỏa ngục hơn một tín hữu thường.. Lúc đầu, tôi còn thi hành nghiêm chỉnh thừa tác vụ linh mục, nhưng rồi, tôi dần dần cảm thấy quá nhàm chán. Tôi bắt đầu bỏ đọc Kinh Thần Vụ, và chính việc bỏ đọc Kinh Thần Vụ đã đưa tôi vào con đường diệt vong. Khi bỏ hẳn việc đọc Kinh Thần Vụ, tôi từ từ đi vào con đường tội lỗi, phạm tội “nhơ-nhớp” và dĩ nhiên tôi không còn dâng thánh lễ cách sốt sắng, vì tôi đã ở trong tình trạng mất Ơn Thánh ..

“Sau cùng tôi phải thú nhận rằng: ngày nay có nhiều linh mục phạm điều răn thứ sáu cấm làm sự dâm dục và lạc thú. Nếu các Linh Mục thấy được tình trạng khủng khiếp như thế nào, hẳn các vị sẽ làm mọi cách để khỏi rơi vào tình trạng ấy. Hẳn các vị sẽ hy sinh đến tận bản năng sau cùng, sẽ lại tin và sẽ làm mọi điều có thể. Hẳn các vị sẽ bắt đầu lại tất cả, sẽ khởi đầu cuộc sống hoàn thiện và khẩn nài tất cả các Thiên Thần, khẩn nài quyền lực của tất cả Thánh Thiên Thần để các Ngài cầu bầu cho các vị được ơn ăn năn hoán cải, bởi vì, âm phủ của chết chóc và của tăm tối rất gần kề! Lửa hỏa ngục thiêu đốt không bao giờ tắt, giòi bọ rúc rỉa không bao giờ ngừng và cái dằn vặt khủng khiếp sẽ kéo dài triền miên vô tận đến muôn kiếp muôn đời!” (Padre Giulio Maria Scozzaro, “Sacerdote, Chi sei tu?”, Associazione Cattolica Gesù e Maria, 1999, trang 125-127).

Bị cám dỗ không phải là điều xấu. Chỉ xấu khi ngã theo chước cám dỗ, phạm tội mất lòng Chúa.

Có những cám dỗ lớn lao về các tội ác tầy trời. Trước các cám dỗ này, linh hồn ngay chính thường tỉnh thức đề phòng. Nhưng, có những cám dỗ cỏn con, khiến con người không mấy quan tâm nên dễ dàng sa ngã. Và đây là chước thuật tinh vi của quỉ dữ. Một khi đạt đến rất nhiều kẻ hở tí teo do các tội nhẹ cỏn con mang lại, quỷ dữ có lối vào linh hồn và dần dần dùng đến cám dỗ lớn lao hơn để đánh ngã linh hồn. Ghi nhớ lời khuyên của thánh Phêrô Tông Đồ: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma-quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế” (1P 5,8-9).

3. ĐỨC GIÊSU KITÔ: ĐẤNG CHIẾN THẮNG SATAN.

“Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Gioan 16,33). Chính Chúa GIÊSU đã từng bị Satan cám dỗ nặng nề. Không phải một lần, nhưng ba lần: Matthêu 4,1-11. Và không phải chỉ ba lần, mà không biết bao nhiêu lần, vì Phúc Âm không thể nào ghi lại hết, như lời thánh Gioan tông đồ khẳng định: “Còn có nhiều điều khác Chúa GIÊSU đã làm. Nếu viết lại từng điều một, tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (Gioan 21,25). Điều quan trọng mọi người nên ghi khắc trong tim: Đức GIÊSU KITÔ đã chiến thắng ma quỷ, thế gian và sự chết. Thánh Giá và Bửu Huyết Chúa mang lại ơn cứu độ cho loài người. Chính Máu Thánh Chúa đánh tan nọc độc của Satan, của quỷ dữ. “Đừng Sợ. Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

“Chúa GIÊSU KITÔ vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh GIÊSU, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức GIÊSU KITÔ là Chúa” (Ph 2,6-11).

Khi vâng lời Thiên Chúa Cha, chấp nhận cái chết trên thập tự, CHÚA GIÊSU Kitô đã biến Thánh Giá thành dấu chỉ cứu rỗi. Thánh Giá chiến thắng sự chết, sự dữ cùng mọi quyền lực tăm tối của ma quỷ. Nấp bóng Thánh Giá, tín hữu Kitô sẽ không sợ hãi khi đương đầu với sự ác.

Tín hữu Công Giáo có thói quen chấp tay lại, rồi, vừa vạch hình Thánh Giá trên trán, trên môi miệng, trên ngực, vừa đọc: Lạy Chúa chúng con, vì dấu Thánh Giá + xin chữa chúng con + cho khỏi kẻ thù + Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen. Lời nguyện có sức xua trừ các cơn cám dỗ, đẩy xa quỷ dữ, nếu được đọc với trọn lòng tin và đi kèm với Nước-Thánh.

.. Câu chuyện xảy ra vào khoảng năm 304 tại thành Antakya, ngày nay là Antiochia, thuộc Thổ-Nhĩ-Kỳ. Thiếu nữ diễm lệ Giustina lọt mắt xanh chàng quí tộc Cipriano. Giustina ở tuổi trăng tròn. Cipriano có số tuổi gấp đôi. Giustina là tín hữu Kitô. Cipriano là chàng trai ngoại giáo. Cipriano quyết định chinh phục con tim Giustina để cưới nàng làm vợ. Nhưng Giustina một mực từ chối. Cipriano dùng đến bùa phép, cậy nhờ sức thần quỷ dữ để bắt buộc Giustina phải nhận lời. Nhưng vô hiệu. Sau cùng, Giustina đã chiến thắng. Trinh nữ Giustina chiến thắng nhờ lòng tin tuyệt đối vào quyền lực vô biên của Thánh Giá Chúa GIÊSU KITÔ. Giustina đã đưa Cipriano gia nhập Kitô Giáo và cả hai cùng được diễm phúc lãnh triều thiên tử đạo.

Trong tù, trước khi bị đưa ra hành quyết, Cipriano hàn huyên với Giustina.

Vị anh hùng nhắc lại chuyện xưa. Cipriano nói: “Giờ đây thực hiện mọi lời em đã tiên báo. Thánh Giá của em đã chiến thắng, Giustina à. Em quả thật là cô giáo dạy anh chứ không phải hiền thê anh. Em đã giải thoát anh khỏi sự dữ và đưa anh vào Sự Sống. Khi thần tăm tối anh tôn thờ thú nhận sự bất lực của hắn trong việc đánh bại em, anh liền hiểu. Quỷ dữ nói với anh: “Cô ta chiến thắng nhờ Thánh Giá. Tôi không hại được cô ta. Thiên-Chúa-Đóng-Đinh của cô ta mạnh hơn mọi quyền lực Âm Phủ hợp lại. Đấng-Ấy đã chiến thắng tôi triệu triệu lần và sẽ còn mãi mãi chiến thắng tôi. Ai tin vào Đấng-Ấy và tin nơi Dấu-Hiệu của Đấng-Ấy, sẽ thoát khỏi mọi quấy phá phiền nhiễu của ma quỷ. Chỉ kẻ nào không tin vào Đấng-Ấy và khinh thường Dấu-Chỉ của Đấng-Ấy, mới rơi vào quyền lực của chúng tôi và bị trầm luân đời đời trong hỏa ngục”.. Anh không muốn rơi vào lửa này. Trái lại, anh ao ước được biết Lửa Thiên Chúa, Lửa đã làm cho em trở nên diễm lệ và trong trắng, dũng lực và thánh thiện. Em là hiền mẫu linh hồn anh, và vì em là hiền mẫu, nên trong giờ phút trọng đại này, xin em hãy lấy sức mạnh em mà bồi dưỡng sự yếu đuối của anh, để cả hai chúng ta cùng can đảm tiến lên tòa Chúa”.

4. Thánh Giá trừ quỷ của thánh Biển Đức

.. Trong phiên tòa xử các mụ phù thủy vùng Nattenburg, thuộc bang Bavière, miền Nam nước Đức, vào năm 1647, các bị cáo cho các thẩm phán biết rằng, họ không thể nào làm hại đan viện Thánh Micae ở Metten được, vì các chữ tắt viết theo hình Thánh Giá trên các vách tường của đan viện.

Quả thật, từ rất lâu, người ta nhớ đã thấy những chữ tắt viết thành hình Thánh Giá trên các bức tường của đan viện, nhưng không ai biết chúng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, các chữ tắt được nhìn nhận. Rồi chúng được khắc trên các ảnh vảy và được phân phát trước năm 1665. Chỉ trong một thời gian ngắn, các ảnh đeo được phổ biến trong toàn Âu Châu. Đây là xuất xứ Thánh Giá / Ảnh Vảy của Thánh Biển-Đức (480-547).

Năm 1720 người ta tìm thấy nơi đan viện Metten cuốn Sách Phúc Âm xuất bản năm 1415, trong đó có phần giải thích ý nghĩa các chữ viết tắt trên hình Thánh Giá của Thánh Biển-Đức.

Nơi bốn góc có bốn chữ: C S P B : Crux Santi Patris Benedicti - Thánh Giá Cha Thánh Biển-Đức.

Trên hàng dọc: C S S M L : Crux Sacra Sit Mihi Lux - Xin Thánh Giá là Ánh Sáng cho con.

Trên hàng ngang: N D S M D : Non Draco Sit Mihi Dux - Chứ không phải quỷ dữ dẫn đường cho con.

Dọc theo vòng tròn của ảnh đeo:

+ hàng bên phải: V R S N S M V : Vade Retro Satana! Numquam Saude Mihi Vana - Xéo đi Satan! Đừng bao giờ rỉ tai ta những điều hư ảo.
+ hàng bên trái: S M Q L I V B : Sunt Mala Quae Libas Ipse Venema Bibas - Điều ngươi nhử ta là xấu. Hãy uống lấy thuốc độc của chính ngươi.

Bên trên Thánh Giá có khắc PAX / HÒA BÌNH khẩu hiệu truyền thống của các đan sĩ Biển-Đức.

Mặt bên kia của ảnh đeo có hình thánh Biển-Đức một tay cầm Thánh Giá, một tay cầm Sách Luật. Bên phải là chiếc ly chứa thuốc độc thánh nhân đã làm vỡ tung khi vạch hình Thánh Giá trên ly. Bên trái là con quạ mang mẩu bánh tẩm thuốc độc được gởi đến vị Tổ Phụ như quà tặng.

Dọc theo vòng tròn của mặt này có khắc: EIUS IN OBITU NOSTRO PRAESENTIA MUNIAMUR - Xin sự hiện diện của Thánh Giá gia tăng sức mạnh cho chúng con trong giờ lâm tử.

Giá trị và công hiệu của ảnh vảy thánh Biển-Đức tùy thuộc nơi niềm tin và lòng đạo đức của người mang nó. Nếu biết sử dụng đúng, ảnh đeo trở thành sự che chở hiệu nghiệm chống lại giông bão, dịch tễ, bệnh tật và thuốc độc và nhất là, được tránh khỏi mọi cạm-bẫy cùng lừa-đảo của ma quỷ. Người ta thường mang ảnh này trên người, đặt trong xe, treo trên tường nhà để xin Chúa chúc lành và xin thánh Biển-Đức phù hộ. (Manual for Oblates of St Benedict, 1955, St John's Abbey Press, Collegeville, Minnesota, pp. 199-203).

5. NHƯNG CỨU CHÚNG CON CHO KHỎI SỰ DỮ

Lạy Cha chúng con ở trên Trời
xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời
cầu cho chúng con là kẻ có tội,
khi nầy và trong giờ lâm tử. Amen.
Nếu không được Thiên Chúa phù trợ, chắc chắn con người không thể tự mình đương đầu với tên đồ tể sự dữ là Satan. Satan đã thành công trong việc kéo theo hai phần ba nhân loại đi vào con đường lầm lạc của vô thần lý thuyết và thực hành. Thay vì tôn thờ Thiên Chúa, con người tôn thờ: khoái-lạc, tiền-bạc, thú-vui, quyền-bính, kiêu-ngạo và tà-dâm. Satan đã quỷ quyệt dùng ”cái-ly tà-dâm” quyến rũ loài người đi theo nó. Oán-thù lấy chỗ tình-thương; chia-rẽ thay thế hiệp-thông; bất-công nuốt trửng công-lý và chiến-tranh chiếm trọn hòa-bình. Các quyền lực ”tăm-tối và tam-điểm” đang tung hoành gieo rắc chết chóc kinh hoàng. Nhân loại đang quằn quại dưới ác thống trị của cuộc chiến tàn ác và đẫm máu, gây nên hàng triệu nạn nhân vô tội.

May mắn thay, con người không tuyệt vọng. Bởi lẽ, chính Chúa GIÊSU đã dạy con người phải kêu van Thiên Chúa Cha trợ giúp, cứu thoát khỏi sự dữ. Ngoài ra, Thiên Chúa Cha còn trao ban cho loài người một Đấng-Bảo-Trợ quyền thế: Trinh Nữ Rất Thánh MARIA. Đức MARIA che chở loài người bằng sự hiện diện mẫu-tử, hùng-mạnh và phi-thường. Mẹ MARIA dẫn đầu cuộc chiến, loài người không nao núng. Chính Mẹ đã hứa khi hiện ra với ba trẻ Luxia, Phanxicô và Giaxinta tại Fatima ngày 13-7-1917: “Sau cùng, Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ thắng”. Chỉ duy nhất Mẹ là Đấng-Bảo-Vệ! Chỉ mình Mẹ mới có thể chiến thắng! Mẹ là niềm hy vọng độc nhất chống lại nọc độc tàn phá của Satan. Hãy cùng nhau thành khẩn chào kính Mẹ: Kính mừng MARIA! Nữ Vương Các Thánh Thiên Thần, tuổi thọ của loài người, tình yêu của Thiên Chúa Độc Nhất và Ba Ngôi! Sau Thiên Chúa, đâu có ai bằng Mẹ? Chúng con kính chào Mẹ, hỡi Nữ Vương vinh hiển trên Trời. Mẹ là thuốc chữa mọi chứng bệnh giết hại tinh thần, dập tắt Đức-Tin, Đức-Cậy, Đức-Mến nơi loài người! Kính mừng MARIA, Hiền-Mẫu bị sát tế vì tội lỗi loài người, xin cầu cho chúng con và cho toàn thế giới!

Cùng với Trinh Nữ Rất Thánh MARIA, - Ái-Nữ Thiên Chúa Cha, Từ-Mẫu Thiên Chúa Con, Hiền-Thê Chúa Thánh Thần - loài người tràn đầy hy vọng và hân hoan bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của TÌNH YÊU VÀ HÒA BÌNH. Ước gì được như vậy.