CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TRUNG HOA


Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt
Copyright© 2001-2003


Chúa Nhật 1-10-2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2 tôn phong 120 vị Tử Đạo Trung Hoa lên bậc Hiển Thánh. Các Vị đổ máu đào làm chứng cho Đức Tin Công Giáo trong thời gian từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20 dưới 3 triều đại: nhà Nguyên (1281-1367), nhà Minh (1606-1637) và nhà Thanh (1648-1907). Trong số 120 vị có 87 vị người Hoa (gồm 5 Linh Mục, 12 nữ tu và 70 giáo dân). 33 vị tử đạo khác là các Thừa Sai Âu Châu (gồm 6 Giám Mục, 19 Linh Mục, 1 tu huynh và 7 nữ tu Phan-Sinh Thừa Sai Đức Mẹ). 86 trong số 120 vị Tử Đạo chịu chết vào năm 1900. Năm 1900 mở ra một trang sử hãi hùng cho Giáo Hội Công Giáo Trung Quốc. Các làng mạc Công Giáo bị bọn giặc Quyền-Phỉ (boxer) hay cũng còn gọi là phiến quân Nghĩa-Hòa-Đoàn nổi lên đốt phá. Các tín hữu Công Giáo bị tàn sát. Xin giới thiệu vài vị Thánh Trung Hoa chịu chết vì Đạo trong năm 1900.

“Thưa ngài, ngài đâu có thể chối bỏ cha mẹ ngài. Em đây cũng vậy. Em không thể nào chối bỏ Thiên Chúa em tôn thờ ”.

Sáng ngày 20-7-1900, làng Công Giáo Châu-Gia-Hà thuộc Tần Huyện, tỉnh Hà Bắc bị thất thủ. Bọn giặc Quyền Phỉ tràn vào lục soát các gia đình Công Giáo. Họ giết chết các tín hữu. Một số đông chạy đến ẩn trong nhà thờ. Tại đây có cha sở Leon Ignace Mangin, thừa sai dòng Tên người Pháp và cha Paul Denn cùng dòng. Hai cha nhất quyết cùng sống cùng chết với đàn chiên. Các ngài can đảm khuyến khích các tín hữu hãy bình tĩnh và sẵn sàng chịu chết vì Đức Tin.

Khi quân lính tiến vào nhà thờ, họ giơ súng bắn xối xả vào đám tín hữu đang quỳ cầu nguyện trước Nhà Tạm, trước Thánh Giá và trước hai vị chủ chăn. Trong giây phút hỗn độn và hãi hùng này, một số thanh niên và đàn ông tìm cách trốn thoát khỏi cơn sát hại. Họ chạy vào phòng thánh, phóng mình qua cửa sổ và chạy trốn. Đợt chạy đầu thoát khỏi, nhưng đến đợt thứ hai thì bị bọn lính chặn lại. Lính đứng sẵn dưới đất, hễ khi một thanh niên vừa phóng qua cửa sổ, chạm chân xuống đất, họ giơ súng bắn ngã gục. Sau cùng, vì mệt và vì chán ngán với hành động sát hại này, lính bắt chừng 50 tín hữu đem nộp cho quân chính phủ đang chiếm đóng làng Công Giáo gần đó.

Trong số 50 người Công Giáo bị bắt có thánh Phêrô Châu Nhật Tân. Châu Nhật Tân (1881-1900) là con trai thứ hai của ông Châu Vũ Đình. Anh Châu là học trò của các Cha dòng Tên. Anh nổi tiếng một học sinh gương mẫu về tinh thần kỷ luật và về các sinh hoạt cộng đoàn. Anh còn là thanh niên đạo đức, thâm trầm và được mọi người mến chuộng.

Khi tướng Trần Tắc Lâm nhìn thấy anh Châu Nhật Tân đi chân không, áo quần tơi tả và khuôn mặt ướt đẫm nước mắt, ông động lòng cảm thương và nhất định cứu sống anh. Tướng Trần Tắc Lâm thừa lệnh tổng trấn Lý Bình Hằng của tỉnh Sơn Đông đến giải quyết vấn đề các tín hữu Công Giáo. Ông gọi riêng anh Châu và dùng lời lẽ vừa nhân ái vừa đượm đầy tình phụ tử để thuyết phục. Ông nói: “Hãy dứt khoát một lần từ bỏ Đạo Công Giáo, em sẽ được tự do”. Anh Châu vừa mạnh mẽ trả lời Không! Không! vừa ngoảnh mặt đi nơi khác, như lộ vẻ kinh tởm.

Tướng Trần Tắc Lâm vẫn tiếp tục dụ dỗ: “Em chỉ cần nói một lời thôi, tôi sẽ cứu em khỏi chết”. Anh Châu cương quyết nói: “Không! Không! em không nói”.

Tướng Trần nài nỉ: “Thôi em không cần nói chi hết. Chỉ cần làm một dấu hiệu chứng tỏ em chối Đạo là đủ. Nếu không, tôi sẽ ra lệnh bắn em”. Những người không Công Giáo có mặt tại buổi đối thoại hôm đó, sau này làm chứng rằng, cuộc dụ dỗ và chiến đấu giữa tướng Trần và anh Châu kéo dài rất lâu. Sau cùng, để dứt khoát trước mọi dụ dỗ của tướng Trần, anh Châu thẳng thắn nói: “Thưa ngài, ngài đâu có thể chối bỏ cha mẹ ngài. Em đây cũng vậy. Em không thể nào chối bỏ Thiên Chúa em kính yêu và tôn thờ”.

Tức giận vì không thuyết phục được chàng thanh niên Công Giáo can đảm, ông tướng hét lớn: “Hãy xéo đi, mày thực là tên ngu xuẩn!” Và ông ra lệnh bắn chết anh Phêrô Châu Nhật Tân. Năm đó anh vừa đúng 19 tuổi xuân.


“Ông có thể giết chết tôi, nhưng tôi vẫn mãi mãi là tín hữu Công Giáo”.

Câu chuyện sau đây xảy ra vào đúng ngày lễ 2 Thánh Phêrô Phaolo Tông Đồ 29-6-1900, tại làng Tiêu Lộ Nghĩa, huyện Thâm Châu tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.

Bọn giặc Quyền Phỉ đến bao vây làng để tìm bắt các tín hữu Công Giáo. Họ đi lục soát từng nhà, nhưng các tín hữu đã chạy trốn vào rừng. Không may, bọn lính đã tìm ra chỗ trốn. Họ giơ súng giết hại không nương tay các tín hữu vô tội, phần lớn gồm phụ nữ và trẻ em. Chỉ có 3 người trong nhóm chạy thoát. Đó là thánh Phaolo Ngô Sơ An, 62 tuổi, thánh Gioan Baotixita Ngô Mân Đường, 17 tuổi và thánh Phaolo Ngô Hoàn Thư, 16 tuổi.

Cậu Thư cùng chú là ông An chạy ẩn vào bụi rậm. Nhưng khi thấy bọn lính chạy về hướng mình đang trốn, cậu Thư liền rời chỗ ẩn, co giò chạy. Cậu thầm nghĩ: với tuổi trẻ sức mạnh, chạy nhanh, chắc mình sẽ thoát được. Nào ngờ lính đuổi kịp và giơ súng bắn chết tại chỗ .. Từ chỗ trốn, nhìn thấy người cháu thân yêu bị giết, ông Ngô Sơ An bỗng trở nên cương dũng. Ông rời nơi ẩn, đi đến chỗ đám lính sát nhân và nói: “Tôi là tín hữu Công Giáo. Các ông hãy giết tôi như đã giết chết cháu tôi”. Các người lính liền hạ sát ông An tức khắc.

Còn lại anh Gioan Baotixita Ngô Mân Đường, 17 tuổi. Anh Đường chạy ngược với hướng các tên lính đang đuổi bắt. Nhưng anh cũng bị đuổi kịp. Các tên lính cuồng bạo hỏi: “Mày có phải là tín hữu Công Giáo không?” Anh Đường trả lời: “Phải, tôi là tín hữu Công Giáo”. Một tên lính nói: “Nếu mày là người Công Giáo, tao sẽ bắn mày ngay tức khắc”. Anh Đường vừa anh dũng vừa điềm tĩnh trả lời: “Ông cứ giết tôi. Nhưng ông nên nhớ rằng: ông chỉ có thể giết được thân xác tôi, còn hồn thiêng bất tử của tôi vẫn mãi mãi là tín hữu Công Giáo”. Anh Gioan Baotixita Ngô Mân Đường vừa nói xong, tên lính giơ súng bắn chết anh.


“Tôi là nữ tử Thiên Hoàng, tôi không chối bỏ Ngài”.

Thánh nữ Rosa Phạm Huệ (1855-1900) chào đời trong một gia đình Công Giáo tại làng Phạm, tỉnh Hà Bắc. Cô là giáo viên nhân ái, đạo đức, khiêm tốn và sống thanh đạm.

Khi bọn giặc Quyền Phỉ nổi lên giết chết các tín hữu Công Giáo, chị Rosa Phạm Huệ đã ngoài 45 tuổi và đang dạy giáo lý cho các trẻ em tại làng Vương Gia Trang. Vào tháng 7 năm 1900, thấy tình hình bắt Đạo mỗi ngày một dữ dội, Chị Huệ đóng cửa lớp và trở về nguyên quán Trương Não Gia. Từ đó, Chị lang thang nay đây mai đó, tìm nơi ẩn trốn.

Tuy nhiên, dầu trốn ẩn, tận nơi sâu kín của lòng, Chị vẫn ao ước có ngày được diễm phúc tuyên xưng Đức Tin Công Giáo. Chính người bạn gái đã làm chứng trong lời khai cho án phong thánh. Ngày 15-8-1900, cả hai Chị cùng tham dự Thánh Lễ mừng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Chị Phạm Huệ đã thức suốt đêm hôm đó để cầu nguyện.

Sáng ngày 16-8, bọn giặc Quyền Phỉ đột nhiên ồ ạt tấn công vào làng Trương Não Gia, cho đến giờ phút này vẫn tạm yên. Chúng bắt ngay em trai chị Huệ và một tín hữu Công Giáo khác. Thật ra bọn giặc chỉ chủ ý bắt chị Phạm Huệ, trinh nữ Công Giáo quá nổi tiếng về lòng đạo đức, tinh thần bác ái và lòng nhiệt thành giảng dạy giáo lý cho các trẻ em. Binh lính hùng hổ lục soát hang cùng ngõ hẻm để tìm cho ra tông tích chị Phạm Huệ, nhưng vô hiệu. Thấy vậy, ba tên du đãng ngoại giáo trong làng cũng nhập cuộc để tìm chỗ trú của chị Huệ. Sau cùng, ba tên này khám phá ra Chị đang ẩn nơi bờ đê của làng. Chúng nói với Chị: “Chị an tâm, bọn giặc đi rồi, tụi tôi sẽ đưa Chị về làng an toàn”. Nhưng chị Huệ hiểu ngay chúng chỉ giả vờ giúp Chị để tóm trọn số tiền Chị đang mang trong mình. Chị Huệ nhất định từ chối không chịu đi theo 3 tên côn đồ. Thấy vô hiệu, chúng bèn đổi chiến thuật, hô lớn tiếng, gọi bọn lính Quyền Phỉ đến.

Bọn lính quá mừng, chạy ào tới hỏi: “Chị có phải tín hữu Công Giáo không?” Chị trả lời: “Chắc chắn rồi, tôi là người Công Giáo”. Bọn lính dùng dao đâm Chị một nhát và hỏi tiếp: “Chị có chịu bỏ Đạo không?”. Chị bình tĩnh đáp: “Không”. Bọn lính dùng dao rạch một đường nơi mông chị, rồi lập lại câu hỏi. Chị Huệ cũng lập y lại câu trả lời: “Không”. Bọn lính xẻo một tai của Chị, nhưng Chị vẫn can đảm nói: “Không, tôi không chối Đạo. Tôi là nữ tử Thiên Hoàng, tôi không chối bỏ Ngài”. Rồi chị giơ cao Bộ Áo Đức Bà Chị đang mang trong mình và nói: “Với Bộ Áo này, tôi sẵn sàng chết vì Đạo”. Bọn lính đâm tiếp mấy lát dao nữa rồi liệng Chị xuống sông. Chị Rosa Phạm Huệ dùng chút sức còn lại bơi vào bờ, nhưng rồi kiệt sức, chị buông mình cho dòng nước mang đi.


“Mẹ à, con sẽ không bao giờ lìa xa mẹ!”

Tại làng Bắc Lao, phủ Hà Giang, tỉnh Hà Bắc, nổi tiếng nhân đức gia đình họ Tần Biên. Chồng chết, thánh nữ Elisabetta Tần Biên một tay quán xuyến mọi việc cửa nhà. Bà chăm sóc cha mẹ già và nuôi dạy 5 người con gồm 2 trai 3 gái: Anna 38 tuổi, Maria 26 tuổi, Phaolo 22 tuổi, Simon 14 tuổi và cô gái út Francesca. Hai người con gái lớn vì muốn giữ mình trinh khiết nên không lập gia đình.

Khi giặc Quyền Phỉ nổi lên giết hại các tín hữu và tàn phá các làng mạc Công Giáo, bà Tần đem cả gia đình đi lánh nạn sang làng không Công Giáo. Tại đây bà cùng cha mẹ già và các con sống những ngày chay tịnh và cầu nguyện để chuẩn bị tuyên xưng Đức Tin, chịu chết vì Đạo.

Nhưng rồi chỗ trú ẩn bị khám phá. Trong các con bà, nổi bật cậu Simon. Simon mới chỉ có 14 tuổi nhưng vóc dáng nở nang và trông rất khôi ngô. Một người ngoại giáo giàu có trong làng chú ý đến cậu và muốn gả con gái cho cậu. Ông nhờ người mai đến gặp bà Tần và nói: “Bà giao cậu Simon cho chúng tôi, chúng tôi sẽ đối xử hết sức tử tế. Rồi chúng tôi sẽ thương lượng với quân giặc Quyền Phỉ, như thế, cả gia đình bà sẽ được cứu sống”. Vừa nghe, cậu Simon hiểu ngay chuyện này gây nguy hiểm cho linh hồn mình. Cậu nói với mẹ: “Mẹ à, đừng lo cho phần xác của con, nhưng hãy lo cho phần hồn của con. Hơn nữa, con không bao giờ rời xa mẹ. Mẹ con ta cùng chết với nhau”.

Thấy nơi trú ẩn bị lộ, bà Tần Biên lại đưa cả gia đình trốn sang làng khác. Nhưng chỉ đi được một cây số thì bị bọn giặc Quyền Phỉ bao vây. Trông thấy bọn lính, Simon hiểu ngay họ muốn tìm bắt mình. Cậu liền quỳ gối và nộp mình cho họ. Bọn lính chém đứt đầu cậu và đâm trọng thương anh Phaolo 22 tuổi, rồi bỏ đi.

Dân làng động lòng thương, chạy đến cứu giúp. Họ đào đất lấp xác Simon và cõng anh Phaolo trên lưng. Bà Tần xin họ đưa trở lại làng mình, vì biết gia đình bà đàng nào cũng chết.

Về đến làng, bọn giặc cũng lại ào ạt tuốn đến. Họ giết chết cha mẹ già và đâm chết anh Phaolo đang hấp hối. Bà Tần Biên nói với bọn lính: “Bây giờ các ông giết mấy đứa con gái tôi trước, sau đó đến phiên tôi. Tôi muốn chứng kiến tận mắt lòng trung thành của các con tôi”. Bọn giặc vâng lời. Người phụ nữ Công Giáo can đảm, thánh nữ Elisabetta Tần Biên, 54 tuổi, gục ngã sau cùng.


“Xin đừng khuyên cháu tìm cách cứu mạng sống mình”.

Ba mẹ con thánh nữ Maria Triệu Quách thuộc một làng ở huyện Kinh Châu. Khi bọn giặc đến bao vây làng và tìm bắt giết các tín hữu Công Giáo, bà Maria Triệu đã 60 tuổi, Rosa 22 tuổi và Maria 17 tuổi. Thấy bọn lính ập vào làng, ba mẹ con sợ quá chạy đến xin trốn nơi một gia đình ngoại giáo. Nhưng gia đình này không dám chứa. Không còn lối thoát, cả ba mẹ con cùng lao mình xuống giếng cạnh nhà. Cả ba thà chết chứ không thà rơi vào tay bọn lính khát máu và cuồng dâm. Mấy người hàng xóm vội chạy đến vớt cả ba mẹ con lên. Bọn lính hăng máu định giết ngay cả ba mẹ con, nhưng dân làng van xin hãy để cho họ sống. Bọn lính tức giận đáp: ”Các ông bà cứ bảo cả ba mẹ con chối Đạo, chúng tôi sẽ để họ yên thân sống”. Cô Rosa, 22 tuổi, lên tiếng nói với các người láng giềng: ”Cô bác đừng kêu xin làm chi, chúng tôi sẵn sàng chết”. Rồi thấy bọn lính hung hăng giơ gươm giáo đe dọa, cô nói tiếp: ”Đừng giết chúng tôi tại đây. Các ông không thấy dân làng sợ hãi sao. Hãy mang chúng tôi về hướng đông của làng”. Bà Maria Triệu Quách sợ hãi run rẩy không nói lời nào. Nhưng cô Rosa luôn trấn an mẹ. Cô tỏ ra rất can đảm và điềm tĩnh. Cô nâng đỡ mẹ già và làm gương cho em gái. Trên đường đi đến nơi xử, dân làng lại động lòng thương và tìm cách xin tha giết cho cả ba mẹ con. Nhưng bọn lính chỉ tay vào Áo Đức Bà và Tràng Chuỗi Mân Côi cả ba mẹ con mang trong mình, rồi nói: ”Ông bà không thấy họ đã trở nên cuồng điên vì tín ngưỡng của họ sao?” Cô Rosa nói với dân làng: ”Cô bác đừng kêu xin vô ích. Họ không nghe đâu. Họ là quỷ dữ mà!” Sau cùng, xuất hiện ông xã trưởng. Ông này lại van xin bọn lính. Một tên lính hăng máu, tức giận lấy gươm đập chết bà Maria Triệu Quách rồi cột chung hai chị em Rosa và Maria lại, dẫn ra cánh đồng. Ông xã trưởng nhất định cứu sống hai chị em. Ông đi theo và nói: ”Hai cháu chỉ cần nói một câu chối Đạo thôi, họ sẽ không giết chết hai cháu”. Cô Rosa thưa với xã trưởng: ”Xin Bác đừng khuyên hai cháu tìm cách cứu sống mạng mình vì hai cháu không thể nào chối bỏ Đức Tin Công Giáo”. Hai cô Rosa và Maria cũng bị giết chết vì Đạo như mẹ. Sau này, dân làng đồng loạt làm chứng về lòng đạo đức và sự anh dũng của ba mẹ con bà Maria Triệu Quách, đặc biệt là cô Rosa, một thanh nữ cương trực, khả ái, được mọi người mộ mến. (Celestino Testore, S.I, “Sangue e Palme e Corone sul Fiume Giallo”, Curia Generalizia della Compagnia di Gesù, 1955).