Sứ Điệp Fatima 100 Năm 1917-2017

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt


Trong bối cảnh đại lễ mừng kỷ niệm 100 năm (1917-2017) Đức Mẹ MARIA hiện ra tại Fatima bên nước Bồ Đào Nha, Đức Thánh Cha Phanxicô đã hành hương Fatima hai ngày thứ sáu 12-5 và thứ bảy 13-5. Toàn thế giới Công Giáo cảm động theo sát các sinh hoạt thiêng liêng của Đức Thánh Cha nơi linh địa Fatima. Đặc biệt sáng thứ bảy 13-5-2017 Đức Thánh Cha chủ sự Thánh Lễ tôn phong hiển thánh hai Chân Phước anh em Giaxinta và Phanxicô Marto. Cả hai cùng với Chị họ Luxia Santos được diễm phúc trông thấy Đức Mẹ MARIA hiện ra vào ngày 13 mỗi tháng từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1917. Thánh trẻ nữ Giaxinta (Jacinta de Jesus Marto) chào đời ngày 11-3-1910 và qua đời ngày 20-2-1920. Thánh trẻ nam Phanxicô (Francisco de Jesus Marto) chào đời ngày 11-6-1908 và qua đời ngày 4-4-1919. Trong khi Chị Luxia (Lucía de Jesus dos Santos) chào đời ngày 28-3-1907 tại Aljustrel, một làng thuộc giáo xứ Fatima và qua đời ngày 13-2-2005 nơi Đan Viện Kín Coimbra, Bồ Đào Nha. Chị Luxia là nữ tu Kín Cát-Minh với tên dòng là Maria Luxia Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm. Tháng 2 năm 2017, Đức Cha Virgilio Antunes, Giám Mục Coimbra, chính thức loan tin toàn thể hồ sơ của Chị Luxia đã được gởi về Bộ Phong Thánh. Đây là giai đoạn đầu trong tiến trình xin tôn phong Chân Phước cho Chị Luxia.
Sứ Điệp Fatima sau 100 năm 1917-2017 vẫn giữ nguyên tính chất thời sự và nét khẩn trương với lời Đức Mẹ MARIA kêu gọi và nhắn nhủ: Ăn Năn Sám Hối, Siêng Năng Lần Hạt Mân Côi và Tôn Sùng Khiết Tâm. Tất cả tài liệu trong bài này được trích từ bút tích thư từ của chính Chị Luxia.

1/ Ba Bí Mật Fatima

Ngày 26-7-1941, Đức Cha José Alves Correia da Silva (1919-1957), Giám Mục Fatima, viết thư cho Chị Luxia Dos Santos truyền Chị ghi lại tất cả những gì Chị biết và nhớ, liên quan đến cuộc đời của bé Giaxinta Marto.
Đây là lý do khiến Chị Luxia đề cập lần đầu tiên đến hai trong ba Bí Mật Fatima: trông thấy Hỏa Ngục và việc sùng kính Khiết Tâm Đức Mẹ. Chị Luxia viết:
Kính thưa Đức Cha,
Qua lệnh Đức Cha, con thấy là chính Chúa nói với con, và đây là lúc thuận tiện để trả lời cho hai câu mà nhiều lần người ta hỏi và con thường tránh né không trả lời.
Theo con thì hình như Chúa và Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria sẽ được hài lòng, nếu trong cuốn sách viết về Giaxinta, người ta thêm vào một chương nói về Hỏa Ngục và một chương nói về Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.
Hẳn Đức Cha sẽ cho là ý kiến này đi ngoài đề. Nhưng thật ra đó không phải là đề nghị của riêng con, nhưng là để làm vinh danh Chúa và vì lợi ích các linh hồn. Và vì thế, đây là lúc con được phép của Trời Cao tiết lộ hai phần đầu của Bí Mật.
Bí Mật thứ nhất liên quan đến việc trông thấy Hỏa Ngục.
Đức Mẹ cho chúng con thấy một đại dương rực lửa, như ở trong lòng đất. Bơi lội trong biển lửa này là các quỷ dữ và các linh hồn bị trầm luân. Các linh hồn giống như các cục than hồng trong suốt, màu đen hay màu đồng, và có hình người. Các linh hồn trầm luân bơi lội trong biển lửa rực cháy này, bị các ngọn lửa hất tung lên cao, bắn ra tứ phía, rồi lại rơi xuống lả chả như những vật không có trọng lượng và mất thăng bằng, giữa những tiếng kêu gào, rên siết đau đớn và thất vọng, nghe thật khủng khiếp và làm cho kinh hãi run sợ. Các quỷ dữ thì khác với các linh hồn, vì giống hình thù quái dị và ghê tởm của những con thú kỳ lạ, nhưng trong suốt và đen như than. Cuộc trông thấy Hỏa Ngục chỉ diễn ra trong chốc lát, nhờ lòng từ mẫu của Mẹ Thiên Quốc, ngay từ buổi hiện ra đầu tiên đã hứa là sẽ mang chúng con lên Trời, nếu không, hẳn là chúng con sẽ phải chết vì kinh khiếp và hãi sợ.
Liền đó, chúng con ngước mắt nhìn Đức Mẹ. Mẹ nhân từ và buồn bã nói với chúng con:
- Các con đã trông thấy Hỏa Ngục, nơi các linh hồn tội lỗi bị rơi vào. Để cứu thoát các linh hồn, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ. Nếu người ta thi hành những điều Mẹ sắp nói với các con đây, thì có nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và người ta sẽ được hưởng thanh bình. Chiến tranh sắp chấm dứt. Nhưng nếu người ta cứ tiếp tục xúc phạm đến Chúa, thì dưới thời Đức Giáo Hoàng Pio XI, một cuộc chiến khác, tàn khốc hơn, sẽ bắt đầu. Khi nào các con trông thấy một đêm tối được chiếu soi bằng một luồng sáng khác thường, thì các con hiểu rằng, đó là dấu chỉ Thiên Chúa sắp trừng phạt thế giới vì những tội ác, bằng chiến tranh, đói khát và cuộc bách hại chống lại Giáo Hội và Đức Thánh Cha. Để ngăn chặn cuộc chiến này, Mẹ sẽ đến xin dâng nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ và rước lễ đền tạ các Ngày Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu người ta nghe lời Mẹ xin, thì nước Nga sẽ trở lại và người ta sẽ được hưởng thanh bình. Nếu không, nước Nga sẽ gieo rắc lầm lạc khắp thế giới, gây ra chiến tranh và bách hại chống Giáo Hội. Những người lành bị giết chết, Đức Thánh Cha phải đau khổ, nhiều quốc gia bị tiêu diệt. Sau cùng, Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng nước Nga cho Mẹ. Nước Nga sẽ trở lại và thế giới sẽ được hưởng một thời gian thanh bình... Thưa Đức Cha, như thế là con vừa tiết lộ phần thứ nhất của Bí Mật.
Phần thứ hai liên quan đến việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.
Con đã viết cho Đức Cha là, trong cuộc hiện ra ngày 13 tháng 6 năm 1917, Đức Mẹ nói với con rằng, Đức Mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi con và Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ sẽ là nơi trú ẩn và là con đường dẫn con đến cùng Thiên Chúa. Trong khi nói mấy lời này thì Đức Mẹ mở rộng hai tay và làm cho ánh sáng phản chiếu từ Mẹ xuyên thấu vào trái tim chúng con. Theo con thì hình như ngày hôm đó, ánh phản chiếu này có mục đích chính là đặt vào lòng chúng con sự hiểu biết và tâm tình yêu mến đặc biệt Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria...
Kể từ ngày đó, chúng con cảm thấy trong lòng chúng con nẩy sinh một tình mến yêu đặc biệt đối với Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria..
Ngày 26-6-2000, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger (Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI) - Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin - họp báo công bố Bí Mật Fatima thứ ba và bản bình luận thần học đi kèm.
Hai phần đầu Bí Mật Fatima đã công bố trước đó: thứ nhất là thị kiến về Hỏa Ngục, thứ hai là về lòng sùng kính Khiết Tâm Đức Mẹ, lời tiên tri về nước Nga mất Đức Tin và các cuộc bách hại tôn giáo của chế độ Sô-Viết, nếu nhân loại không cầu nguyện và hoán cải. Bí Mật thứ ba là thị kiến liên hệ trước tiên tới cuộc chiến chế độ cộng sản vô thần chống lại Giáo Hội và các tín hữu Kitô và mô tả đau khổ vô biên của các nạn nhân Đức Tin trong thế kỷ XX.

Bí Mật Fatima thứ ba được Chị Luxia viết tại Tuy ngày 3-1-1944. Sau đây là bản dịch nguyên văn thư của Chị Luxia:

J.M.J
Phần thứ ba của Bí Mật được mặc khải ngày 13 tháng 7 năm 1917 tại Cova de Iria-Fatima.
Con viết vì vâng lời Ngài, lạy Thiên Chúa con, Đấng truyền lệnh cho con qua trung gian Đức Giám Mục Leiria và Mẹ Chí Thánh của Ngài, cũng là Mẹ con.
Sau hai phần mà con đã trình bày, chúng con trông thấy bên phía cánh phải của Đức Bà, hơi nhích cao hơn, một Thiên Thần với lưỡi gươm bằng lửa cầm nơi tay trái; lưỡi gươm lấp lánh và phát ra các tia lửa giống như muốn thiêu rụi thế giới; nhưng các tia lửa bị tắt lịm khi chạm đến nét huy hoàng rực sáng tỏa ra từ bàn tay phải của Đức Bà giơ lên về phía Thiên Thần; Thiên Thần, giơ bàn tay phải chỉ trái đất và nói với giọng quát lớn: Sám Hối! Sám Hối! Sám Hối! Và chúng con trông thấy trong một luồng sáng mênh mông Đấng là Thiên Chúa: ”Một cái gì giống như thể người ta nhìn thấy các hình người trong một tấm gương khi họ đi ngang qua trước tấm gương” một Vị Giám Mục mặc Áo Trắng, ”chúng con có linh tính đó là Đức Thánh Cha”. Rồi đến nhiều Giám Mục khác, Linh Mục, tu sĩ và nữ tu leo lên một ngọn núi hiểm trở, và bên trên đỉnh núi có một Cây Thánh Giá thật lớn thân sần sùi giống như làm bằng gỗ cây sồi điên điển còn nguyên vỏ; trước khi lên tới đỉnh núi, Đức Thánh Cha đi qua một thành phố lớn phân nửa bị tàn phá và phân nửa bị rung chuyển, Đức Thánh Cha bước đi lảo đảo, buồn bã vì sầu khổ và vì đau đớn, ngài cầu nguyện cho linh hồn các tử thi ngài gặp trên đường đi: khi lên tới đỉnh núi, quỳ gối phủ phục dưới chân Cây Thánh Giá lớn, ngài bị nhóm lính giết chết bằng nhiều phát súng và mũi tên; và cũng bằng cách thức như thế lần lượt bị bắn chết gục ngã các Đức Giám Mục, các Linh Mục, các tu sĩ, các nữ tu và nhiều giáo dân, nam nữ thuộc các tầng lớp và thành phần xã hội khác nhau. Bên dưới hai cánh Thánh Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm nơi tay một bình tưới bằng thủy tinh, trong đó các ngài hứng máu các Vị Tử Đạo và tưới lên các linh hồn đến gần Thiên Chúa.

2/ Tôn Sùng Mẫu Tâm

Về việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ MARIA (Khiết Tâm Đức Mẹ) thì Chị Luxia viết theo lời yêu cầu của Cha José Aparício da Silva, Linh Mục dòng Tên. Lúc ấy Chị là tập sinh sống trong một đan viện ở Tây Ban Nha.

Ngày 17-12-1927, con đến quì trước Nhà Tạm và hỏi Đức Chúa GIÊSU làm thế nào để thực hiện công tác con được trao phó, xét vì việc sùng kính Khiết Tâm Đức Mẹ còn nằm trong vòng Bí Mật do Đức Mẹ truyền phải giữ kín. Đức Chúa GIÊSU trả lời bằng tiếng nói rõ ràng:
- Con à, hãy viết ra những gì người ta hỏi con và tất cả những điều Đức Mẹ tỏ lộ cho con biết khi hiện ra, liên quan đến vấn đề sùng kính. Phần còn lại vẫn tiếp tục giữ kín.

Điều liên quan đến vấn đề được ủy thác vào năm 1917: Con xin cho cả ba được đưa về trời. Đức Mẹ trả lời: ”Được, chẳng bao lâu nữa Mẹ sẽ đưa Giaxinta và Phanxicô về trời, nhưng con còn ở lại dưới đất một ít nữa. Đức Chúa GIÊSU muốn dùng con để làm cho người ta biết và yêu mến Mẹ.
Chúa muốn thiết lập trong thế giới lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ. Những ai thực thi lòng sùng kính này Mẹ hứa ban ơn cứu rỗi cho họ và các linh hồn ấy sẽ làm đẹp lòng Chúa và giống như những đóa hoa Mẹ dùng trang điểm ngai tòa THIÊN CHÚA”. Con buồn bã hỏi lại: ”Con phải ở lại một mình sao?” Đức Mẹ đáp: ”Không, con à; Mẹ sẽ không bao giờ lìa bỏ con. Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ là nơi con nương ẩn và là đường đưa con đến tận THIÊN CHÚA”.

Ngày 10-12-1925 trước đó, Đức Mẹ hiện ra với con, và bên cạnh Đức Mẹ, ngự trong đám mây sáng chói có một Hài Nhi. Đức Mẹ một tay đặt trên vai con, tay kia cầm đưa cho con xem một Trái Tim quấn đầy gai nhọn. Cùng lúc ấy, Hài Nhi nói: ”Hãy thương đến Trái Tim Mẹ Rất Thánh con, phủ đầy gai mà loài người tệ bạc không ngừng đâm thẳng vào Trái Tim và không có ai làm việc đền tạ để rút các gai nhọn khỏi Trái Tim”. Một lúc sau, Đức Mẹ nói: ”Con à, hãy nhìn Trái Tim Mẹ đây, bị phủ đầy gai mà loài người liên tục dùng để chọc thủng bằng những lời phạm thượng và thái độ vong ân bội nghĩa. Còn con, ít ra là con hãy tìm cách an ủi Mẹ, và nói với tất cả mọi người rằng: kẻ nào, trong vòng 5 tháng liền, cứ vào ngày Thứ Bảy Đầu Tháng, xưng tội và rước lễ, lần một tràng chuoỗi Mân Côi và dành 15 phút để suy gẫm 15 mầu nhiệm Mân Côi, với mục đích an ủi Mẹ, Mẹ hứa sẽ đến thăm người ấy vào giờ lâm chung, với mọi ân huệ cần thiết để cứu rỗi linh hồn người ấy”.

Một năm sau, ngày 15-12-1926, Đức Chúa GIÊSU Hài Đồng lại hiện ra với con. Chúa hỏi con đã phổ biến lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Ngài chưa. Con trình bày cho Chúa biết những khó khăn Cha Giải Tội gặp phải. Riêng Mẹ Bề Trên con sẵn sàng phổ biến nhưng Cha Giải Tội lại bảo một mình Mẹ đâu làm được chuyện gì. Đức Chúa GIÊSU Hài Đồng trả lời: ”Phải, một mình Mẹ Bề Trên con không làm được, nhưng với ơn thánh Cha, tất cả đều có thể được”.
Con trình bày những khó khăn vài linh hồn gặp khi phải xưng tội ngày thứ bảy và hỏi Chúa xem việc xưng tội trước đó 8 ngày có hữu hiệu không. Đức Chúa GIÊSU trả lời: ”Ngay cả xưng tội trước đó lâu hơn nữa cũng được, miễn là khi rước Cha, linh hồn đang ở trong tình trạng có ơn thánh và rước lễ với ý chỉ đền bù và thoa dịu Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ MARIA”. Con hỏi thêm: ”Lạy Đức Chúa GIÊSU yêu dấu của con, nếu có ai quên xưng tội thì sao?” Đức Chúa GIÊSU đáp: ”Họ có thể xưng tội sau đó, xưng ngay khi có cơ hội thuận tiện”.

Ngày 29-5-1930, Chị Luxia viết cho Cha Giải Tội José Bernardo Goncalves, Linh Mục dòng Tên, về việc sùng kính Khiết Tâm Đức Mẹ và nạn bách hại do nước Nga gây ra như sau.

Thưa Cha đáng kính,
Hình như THIÊN CHÚA Nhân Lành, ngự nơi thẳm sâu lòng con, thúc giục con xin Đức Thánh Cha chuẩn y việc sùng kính đền tạ Khiết Tâm Đức Mẹ mà chính THIÊN CHÚA và Mẹ Rất Thánh đã xin vào năm 1925, hầu qua việc sùng kính bé nhỏ này, THIÊN CHÚA và Đức Mẹ có thể ban ơn tha thứ cho tất cả những linh hồn bị mất ơn thánh vì đã xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ MARIA. Đức Mẹ hứa với những linh hồn tìm cách đền tạ Trái Tim Mẹ không gián đoạn, Mẹ sẽ đến thăm các linh hồn ấy vào giờ lâm chung và ban cho mọi ơn cần thiết để được cứu rỗi.

Việc sùng kính Khiết Tâm Đức Mẹ bao gồm có các việc đạo đức:
- Thi hành ngày Thứ Bảy Đầu Tháng trong vòng 5 tháng liên tục với việc rước lễ, lần một tràng chuỗi Mân Côi và dành ra 15 phút sống với Đức Mẹ, suy gẫm các mầu nhiệm Mân Côi và xưng tội với cùng ý hướng ấy. Tuy nhiên việc xưng tội có thể làm vào một ngày khác, không bắt buộc phải xưng tội trong chính ngày Thứ Bảy Đầu Tháng.
Nếu con không lầm thì THIÊN CHÚA Nhân Lành hứa làm ngưng các vụ bách hại tại Nga, nếu Đức Thánh Cha chấp thuận làm, và truyền cho tất cả các Giám Mục trong thế giới Công Giáo cùng làm, một cách vừa trọng thể vừa công khai, việc đền tạ và dâng hiến nước Nga cho Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU và Khiết Tâm Đức Mẹ MARIA. Đức Thánh Cha cũng nên hứa rằng, khi cuộc bách hại chấm dứt, thì sẽ chuẩn y và khuyến khích việc thi hành lòng sùng kính đền tạ Khiết Tâm Đức Mẹ như vừa mô tả trên đây.

Ba năm trước khi viết lá thư trên cho Cha José Bernardo Goncalves, Chị Luxia Santos cũng đề cập đến việc sùng kính đền tạ Khiết Tâm Đức Mẹ trong lá thư viết cho thân mẫu đề ngày 24-7-1927. Chị Luxia viết.
Con rất ước ao Má thi hành một việc đạo đức rất đẹp lòng Chúa và do chính Hiền Mẫu Thiên Quốc chúng ta xin. Vừa khi con biết được việc đạo đức này con thực hành ngay và hết sức phổ biến để nhiều người cùng thực hành. Con hy vọng Má mau mắn thi hành việc sùng kính đền tạ Khiết Tâm Đức Mẹ đồng thời khuyến khích mọi tín hữu trong làng cũng yêu mến việc đạo đức này. Đây là một việc đền tạ rất dễ thi hành. Rước lễ đền tạ trong 5 ngày Thứ Bảy Đầu Tháng liên tiếp. Lần một tràng chuỗi Mân Côi và dành ra 15 phút suy gẫm các mầu nhiệm Mân Côi. Trong khi việc xưng tội có thể xưng vào một ngày khác, không bắt buộc phải xưng vào chính ngày Thứ Bảy Đầu Tháng.
Xin tạm biệt Má yêu dấu. Nếu Má thi hành những điều con vừa nói hẳn sẽ làm vui lòng Hiền Mẫu Thiên Quốc chúng ta lắm lắm và xin Má cũng làm cho nhiều người biết đến việc đạo đức đền tạ này, như thế Má cũng cho con một niềm vui khôn tả.
Xin hôn tay Má và con là đứa con gái trìu mến yêu Má thật nhiều. Ký tên Maria Lúcia de Jesus.

Tháng 5 năm 1930, Cha José Bernardo Goncalves, Linh Mục dòng Tên, lúc bấy giờ là Cha Giải Tội một đan viện ở Tây Ban Nha nơi Chị Luxia đang là tập sinh, xin Chị Luxia trả lời trên giấy 6 điểm sau đây.
Thứ nhất: khi nào, ra sao và ở đâu, Chị đã nghe biết về việc sùng kính đền tạ 5 ngày Thứ Bảy Đầu Tháng.
Thứ hai: Những điều kiện nào đòi hỏi khi thi hành việc đền tạ nói trên.
Thứ ba: ơn lành nào nhận được nếu một người chỉ thi hành ít là một lần ngày Thứ Bảy Đầu Tháng.
Thứ tư: Tại sao lại 5 mà không phải 9 hoặc 7 Sự Thương Khó Đức Bà?
Thứ năm: Nếu có người không thể tuân theo hết mọi điều kiện: chẳng hạn thay vì Thứ Bảy Đầu Tháng thì có thể làm vào ngày Chúa Nhật không?
Thứ sáu: Liên quan đến việc cứu nước Nga thì Chúa và Mẹ muốn gì.
Ngày 12-6-1930 Chị Luxia lần lượt trả lời 6 câu hỏi trên đây.

Thứ nhất: Ngày 10-12-1925, Chúa và Đức Mẹ hiện ra chỉ cho con thấy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ và xin con làm việc đền tạ.
Thứ hai: Những điều kiện nào đòi hỏi khi thi hành việc đền tạ nói trên.
Thưa: Trong 5 tháng liên tiếp, vào ngày Thứ Bảy Đầu Tháng, rước Mình Thánh Chúa, lần Chuỗi Mân Côi và dành 15 phút sống với Đức Mẹ bằng cách suy gẫm các Mầu Nhiệm Mân Côi và xưng tội với cùng ý chỉ. Tuy nhiên có thể xưng tội vào một ngày khác, miễn là khi rước lễ, linh hồn đang ở trong tình trạng có ơn thánh.
Thứ ba: ơn lành nào nhận được nếu một người chỉ thi hành ít là một lần ngày Thứ Bảy Đầu Tháng? Thưa: linh hồn nào tìm cách an ủi Mẹ như thế thì Đức Mẹ hứa sẽ giúp đỡ linh hồn ấy trong giờ chết để được ơn cứu rỗi.
Thứ tư: Tại sao lại 5 mà không phải 9 hoặc 7 Sự Thương Khó Đức Bà? Chị Luxia trả lời. Lúc con đang ở nhà nguyện với Chúa, trong đêm 29 rạng ngày 30 tháng 5 năm 1930 và thưa với Chúa câu hỏi này thì bỗng chốc con cảm thấy sự hiện diện thâm sâu của Chúa và con được Chúa tỏ lộ như sau:
- Con à, lý do thật giản dị: 5 là để đền bù 5 tội ngỗ nghịch và xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ MARIA. Thứ nhất, tội phạm thượng chống lại việc Đức Mẹ được đầu thai Vô Nhiễm Nguyên Tội. Thứ hai, tội chống lại Đức Mẹ trọn đời đồng trinh. Thứ ba, tội chống lại việc Đức Mẹ sinh con mà vẫn còn đồng trinh, cùng lúc từ chối không chấp nhận Đức Mẹ là Mẹ của loài người. Thứ tư, tội của những người tìm cách gieo vào lòng các trẻ em sự dửng dưng, hạ giá và đôi khi đi đến chỗ xúi giục các trẻ em sinh lòng hận thù đối với Đức Mẹ Vô Nhiễm. Thứ năm, tội của những người xúc phạm trực tiếp đến các ảnh thánh Đức Mẹ. Đó, con thấy chưa, đây là lý do khiến Cha quyết định xin các con làm việc đền tạ bé nhỏ này để đền bù 5 tội xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ MARIA, hầu Cha có thể tha thứ cho những ai đã cả gan dám xúc phạm đến Đức Mẹ .. Phần con, hãy liên lĩ cầu nguyện và hy sinh để xin Cha xử nhân từ đối với những linh hồn tội lỗi này.
Thắc mắc thứ năm: Nếu có người không thể tuân theo hết mọi điều kiện: chẳng hạn thay vì Thứ Bảy Đầu Tháng thì có thể làm vào ngày Chúa Nhật không? Chị Luxia thưa. Đức Chúa GIÊSU bảo: Được, khi chính các Linh Mục biết rõ các linh hồn và cho phép họ được làm thay như vậy.
Về câu hỏi thứ sáu liên quan đến việc cứu nước Nga, Chị Luxia trả lời:
- Nếu con không lầm thì THIÊN CHÚA Nhân Lành hứa làm ngưng các vụ bách hại tại Nga, nếu Đức Thánh Cha chấp thuận làm, và truyền cho tất cả các Giám Mục trong thế giới Công Giáo cùng làm, một cách vừa trọng thể vừa công khai, việc đền tạ và dâng hiến nước Nga cho Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU và Khiết Tâm Đức Mẹ MARIA. Đức Thánh Cha cũng nên hứa rằng, khi cuộc bách hại chấm dứt, thì sẽ chuẩn y và khuyến khích việc thi hành lòng sùng kính đền tạ Khiết Tâm Đức Mẹ như vừa mô tả trên đây.

3/ Lòng Đạo Đức Của Thánh Trẻ Giaxinta Marto.

Chứng từ của Chị Luxia được ghi lại trong cuốn Hồi Ký viết theo lệnh truyền của Đức Cha José Alves Correia da Silva, Giám Mục giáo phận Leiria-Fatima.
Trọng kính Đức Cha,
Giờ đây đã đến lúc con phải trả lời câu Cha Sở Galamba hỏi con:
- Đâu là cảm tưởng của những người có dịp tiếp xúc với Giaxinta?
Thật là câu hỏi khó trả lời, bởi lẽ con đâu biết được những gì xảy ra trong nội tâm người khác và như thế, con đâu biết được cảm tưởng của họ ra sao. Con chỉ có thể nói về những gì chính con cảm thấy và mô tả các cảm xúc bên ngoài của nhiều người khác đối với em Giaxinta mà thôi.
Điều mà con cảm nghiệm khi ở gần Giaxinta, cũng giống như điều mà một người cảm nhận khi sống gần một người đạo đức thánh thiện, luôn kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.
Bé Giaxinta luôn có thái độ giản dị, nghiêm trang và dễ thương, hầu như minh chứng sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi hành động của em. Đây là điều chỉ thường xảy ra nơi những người lớn tuổi và đã tiến xa trên đường thánh thiện. Con không bao giờ trông thấy em tỏ ra nhẹ dạ hoặc yêu thích quá đáng đối với trò chơi hoặc đối với các đồ trang sức, giống như các trẻ em cùng lứa tuổi. Tư cách này em chỉ có sau khi đã được diễm phúc trông thấy Đức Mẹ hiện ra, bởi vì trước đó, em là trẻ đứng hàng đầu trong việc đỏm dáng và ngang chướng!
Những người từ xa đến gặp chúng con - hoặc vì tò mò hoặc do lòng đạo đức - thường cảm nhận một điều gì siêu nhiên khi tiếp xúc với Giaxinta. Đôi khi họ đến nhà gặp con và nói:
- Chúng tôi vừa nói chuyện với Giaxinta và Phanxicô. Ở cạnh hai em, tôi như cảm nhận một cái gì đó có tính cách siêu nhiên.
Nhiều lúc những người này muốn con giải thích cho họ biết, tại sao họ lại cảm nghiệm như thế. Nhưng vì con không biết phải giải thích ra sao, nên con chỉ nhún vai và giữ thinh lặng. Con thường nghe đi nghe lại nhiều lần nhận xét này.
Một ngày, có hai Linh Mục và một người đàn ông đến nhà con. Trong khi mẹ con mở cửa và mời khách vào, con liền ba chân bốn cẳng leo lên gác thượng để trốn. Mẹ con, sau khi đưa khách vào nhà, liền để khách ngồi đó, để ra gọi con ngoài sân, nơi hai mẹ con vừa ở đó. Không trông thấy con ở đâu cả, mẹ con còn nán lại để tìm con. Trong khi chờ đợi, người khách gợi chuyện với mẹ con. Ông ta nói:
- Chúng tôi muốn nghe con bà nói như thế nào. Phần tôi, tôi thật xúc động trước nét ngây thơ và thành thật của Giaxinta và của anh bé. Nếu con của bà không nói ngược lại, thì tôi sẽ tin. Tôi không biết diễn tả ra sao điều tôi cảm nghiệm được khi ở gần hai trẻ kia.

Vì mẹ con không tìm ra con nên ba người khách buộc lòng phải ra về. Mẹ con nói:
- Nhiều lúc con bé chạy chơi với các trẻ khác trong làng, và không tài nào kiếm được nó!
Ba người khách đáp:
- Thiệt là uổng! Chúng tôi đã được hân hạnh nói chuyện với hai trẻ kia, nên chúng tôi rất ao ước được nói chuyện với con gái của bà. Nhưng không sao, chúng tôi sẽ trở lại vào một lần khác.

Vào một ngày Chúa Nhật, sau Thánh Lễ, các bạn con ở xóm Moita là Maria, Rosa+Anna Caetano và Maria+Anna Brogueira, đến xin phép mẹ con cho con được đi chơi cả ngày với các bạn. Khi được mẹ con chấp thuận, các bạn con bảo con rủ hai em Phanxicô và Giaxinta cùng đi. Sau khi được cô dượng đồng ý, chúng con lên đường đi Moita. Ăn trưa xong, bé Giaxinta bắt đầu ngủ gục. Ông José Alves liền bảo một người cháu bế Giaxinta đặt vào giường. Chỉ một lúc sau, bé Giaxinta đã ngủ say. Người dân trong xóm bắt đầu tụ họp để chơi với chúng con buổi chiều hôm ấy. Và trong niềm ao ước được thấy Giaxinta, họ liền vào phòng xem bé đã thức giấc chưa. Họ ngạc nhiên thấy bé ngủ say, với nụ cười điểm trên đôi môi và dáng điệu giống vị thiên thần tí hon, đang chắp tay hướng về Trời. Phòng ngủ bỗng chốc đầy người tò mò đến xem bé Giaxinta ngủ. Ai ai cũng muốn nhìn bé và thật miễn cưỡng khi phải nhường chỗ cho người khác đến chiêm ngắm bé. Bà vợ ông José Alves và các cháu bà trầm trồ:
- Đúng là một thiên thần tí hon!
Và, như được lòng kính trọng thôi thúc, mấy bà cháu liền quỳ xuống cạnh giường bé Giaxinta mãi cho đến gần 4 giờ rưỡi, khi con đến đánh thức bé Giaxinta dậy để đi lần hạt nơi đồi Cova-da-Iria và sau đó trở về nhà.
4/ Lòng Đạo Đức Khác Thường Của Thánh Trẻ Phanxicô Marto.

Em Phanxicô có những nét thật đặc biệt. Em luôn luôn tươi cười, dễ thương, nhường nhịn và chơi đùa với hết mọi trẻ, không phân biệt chọn lựa riêng trẻ nào cả. Thỉnh thoảng, em chỉ rút lui khỏi nhóm, khi có điều gì mà em cho là không tốt. Nếu các trẻ hỏi tại sao bỏ đi thì em trả lời:
- Bởi vì các bạn không dễ thương!
hoặc:
- Bởi vì mình không muốn chơi nữa!
Trong thời gian Phanxicô bị bệnh, các trẻ ra vào phòng em cách tự do.
Đôi khi các trẻ đứng bên ngoài và nói chuyện qua cửa sổ với em, hỏi thăm em có khoẻ hơn không, vv.. Nếu có ai hỏi em có muốn vài trẻ em ở lại chơi cho có bạn không thì em trả lời không. Em chỉ thích ở một mình. Thỉnh thoảng em nói với con:
- Em chỉ thích Chị và Giaxinta ở lại đây thôi!
Trước mặt những người lớn đến thăm, em thường giữ thinh lặng và trả lời vắn tắt những câu khách hỏi. Những người đến thăm em - người trong xóm hoặc người từ nơi khác - thường ngồi cạnh giường em, đôi khi lâu thật lâu. Những người này nói:
- Tôi không rõ Phanxicô có cái gì đặc biệt. Nhưng tôi cảm thấy thật thoải mái khi được ở gần em.
Một ngày, sau khi đã ở lại phòng Phanxicô một lúc, mấy người hàng xóm nói với mẹ và cô con rằng:
- Có một mầu nhiệm mà chúng tôi không hiểu nổi: hai trẻ này cũng giống các trẻ khác. Các em thường không nói năng gì hết, nhưng ở gần các em, người ta cảm thấy một cái gì đó, không giống các trẻ khác.
Dì Romana, người láng giềng của cô con, một hôm nói với cô con:
- Điều người ta cảm thấy khi bước vào phòng Phanxicô, giống như điều người ta cảm thấy khi bước chân vào thánh đường.
Điều đáng nói là Dì Romana không tin tí nào về các cuộc Đức Mẹ hiện ra.
Trong nhóm của Dì Romana còn có ba bà khác.
Thật ra không có gì đáng ngạc nhiên, khi những người ấy cảm nghiệm được những tâm tình trên đây, bởi vì, các bà này thường gặp thấy nơi những người khác sự bám víu vào vật chất, nơi cuộc đời chóng qua và mỏng dòn này. Chỉ nguyên sự kiện được trông thấy Phanxicô và Giaxinta, khiến họ quy hướng tư tưởng về Người Mẹ trên Trời - Người Mẹ mà hai em có liên hệ chặt chẽ - về quê hương vĩnh cửu - nơi mà hai em hằng hân hoan sẵn sàng ra đi - về Thiên Chúa, Đấng mà hai em không ngừng tuyên bố là hai em yêu mến Ngài hơn cả cha mẹ ruột và sau cùng, về cả Hỏa Ngục nữa, nơi mà hai em nói với họ là họ sẽ rơi vào đó, nếu họ cứ tiếp tục phạm tội mất lòng Chúa.

Về phương diện vật chất thì hai em Phanxicô và Giaxinta - theo lời người ta nói - cũng giống như các trẻ khác. Nhưng, nếu những người này, thường nhìn cuộc sống dưới nhãn quan vật chất, biết nâng cao tinh thần lên một chút thì họ sẽ thấy nơi hai em Phanxicô và Giaxinta có cái gì đó khác biệt với các trẻ khác cùng lứa tuổi.

Viết tới đây con liền nhớ một chuyện liên quan đến Phanxicô và con xin ghi lại. Một hôm, có một bà ở Casa Velha tên là Mariana, vào phòng thăm Phanxicô. Bà đang âu sầu vì chuyện chồng bà dọa đuổi một người con ra khỏi nhà. Bà xin Phanxicô cầu cho hai cha con được làm hòa với nhau. Phanxicô trả lời:
- Bác an tâm. Cháu sắp về Trời, và khi nào lên Trời rồi, cháu sẽ xin Đức Mẹ ban ơn này cho bác.
Con không nhớ rõ câu chuyện xảy ra bao nhiêu ngày trước khi Phanxicô từ trần. Nhưng con nhớ là, ngay buổi chiều ngày Phanxicô qua đời, đứa con trai xin thân phụ tha lỗi lần cuối, điều mà người cha luôn từ chối, vì người con không chịu thi hành các điều kiện ông đặt ra. Nhưng chiều hôm ấy, đứa con trai cúi đầu chấp nhận hết mọi điều kiện do thân phụ đưa ra và nhờ thế, bình an được tái lập trong gia đình.

(”Lucia racconta Fatima” (memorie lettere e documenti), Editrice Queriniana, 1999, trang 141-146 + ”Lucie raconte Fatima”, Desclée de Brouwer, 1978, trang 113-126 + ”Lucie raconte Fatima”, Fatima-Editions, 1976, trang 195-200 + Mémoires de Soeur Lucie, Secretariado dos Pastorinhos, FÁTIMA - PORTUGAL, 2001, trang 223).

CÓ HỎA NGỤC KHÔNG? CÓ HỎA NGỤC!

"Có Hỏa Ngục!" là tựa đề cuốn sách xuất bản vào năm 1954 bằng tiếng Ý của Cha Giuseppe Tomaselli SDB Linh Mục dòng Salésien Don Bosco. Cha Tomaselli chào đời ngày 26-1-1902 tại Catania và qua đời ngày 9-5-1989 tại Messina, miền Nam nước Ý. Xin giới thiệu phần đầu (trang 7-31) qua bản dịch bằng tiếng Pháp ”Có Hỏa Ngục Không?” của Linh Mục Honoré Mazué, Cha Sở giáo xứ Montcony, miền Đông nước Pháp. Sách dịch được nhà sách Téqui phát hành vào năm 1985.

(Lời Dẫn Nhập của Cha Giuseppe Tomaselli). Đại tá M.. không thuộc loại người ”ăn tươi nuốt sống các Cha Sở” nhưng lại thích nhạo báng tôn giáo. Một ngày ông nói thẳng với Cha Tuyên Úy của trung đoàn:
- Quý vị, các Linh Mục, quý vị biết rõ các mánh-khóe. Quý vị thường phô bày ”hình nộm” Hỏa Ngục và với cách thức hù-dọa này, quý vị chiêu-dụ rất nhiều tín đồ.
- Thưa Đại Tá, tôi không có ý đi vào cuộc tranh cãi với Đại Tá. Có lẽ sau này chúng ta có dịp trao đổi chăng. Ngay lúc này, tôi chỉ xin hỏi một câu: ”Đại Tá học ở đâu để đi đến kết luận: Không có Hỏa Ngục!?”.
- Không cần phải học cao để có thể hiểu một số vấn đề.
- Tôi thì trái lại, tôi đặc biệt học hỏi vấn đề dưới ánh sáng các văn bản thần học, và tôi không chút nghi ngờ về sự hiện hữu của Hỏa Ngục.
- Vậy xin Cha làm ơn cho tôi xem cuốn sách có bàn đến vấn đề này!
Khi mang cuốn sách trả lại Cha Tuyên Úy, sau khi đọc rất kỹ, ông Đại Tá không ngần ngại tuyên bố:
- Tôi thấy rõ các Linh Mục không tìm cách đánh-lừa dân chúng khi nói với họ về Hỏa Ngục. Lý chứng quý vị đưa ra quá vững, quá đủ để có thể tin là Hỏa Ngục hiện hữu! Quý vị có lý!
Nếu một Đại Tá - chắc chắn có kiến thức cao - dám chế-diễu một chân lý nghiêm trọng như sự hiện hữu của Hỏa Ngục, thì chúng ta đâu ngạc nhiên khi những người ít học như một anh thợ, một học sinh hay một bà già lắm chuyện, đến đùa cợt kể cho chúng ta nghe là không có Hỏa Ngục, hoặc giả nếu có thì không ở một mình mà là ở chung với số đông .. Và nhất là vào mùa đông thì không sợ lạnh vì hệ thống sưởi của Hỏa Ngục đặc biệt tốt! ..
Ôi, Hỏa Ngục! .. Thực tế thật đáng khiếp sợ biết bao! .. Đây không phải việc dành cho tôi - người một ngày kia cũng sẽ chết - mô tả những hình phạt ghê gớm dành cho các nô lệ của Hỏa Ngục. Ôi, phải chi một người bị trầm luân có thể xuất hiện từ vực sâu thảm khốc này! Người ấy, phải, chỉ có người ấy, mới có thể mô tả cho chúng ta thấy rõ cái nhìn thực tế và rùng rợn về Hỏa Ngục!!..
Dầu vậy, dựa vào các nguồn tài liệu chắc chắn, nhất là dựa vào Mặc Khải Thần Linh, tôi xin phép giới thiệu cùng độc giả, một giáo huấn đáng được suy tư nghiêm chỉnh. Chúng ta hãy xuống Hỏa Ngục bằng tâm trí ngay bây giờ, để khỏi phải lao vào Hỏa Ngục sau khi chết! Đó cũng chính là lời khích lệ chân thành nồng nhiệt nhất của thánh Augustino.
(Lời Bàn của Cha Sở Honoré Mazué). Quả thật, từ Hỏa Ngục nghe thật chói tai đối với người thời đại chúng ta. (***Trong các bản dịch Việt-ngữ cũng thường tránh dùng từ Hỏa Ngục và thay vào đó bằng từ Âm Phủ, Âm Ty***).
Thế nhưng, Hỏa Ngục hiện hữu là một trong những chân lý Đức Tin nền tảng.
Hoặc giả có người tin Hỏa Ngục hiện hữu, nhưng lại cho rằng, đây là một chân lý chả dính dáng gì đến chúng ta, những người nam và người nữ của thế kỷ XX ..
Một ngày, có người trả lời cho một phụ nữ rằng tín điều Hỏa Ngục làm cho anh nao núng một chút nhưng vội vàng trấn tĩnh ngay:
- Bà ơi, phải tin Hỏa Ngục hiện hữu vì đó là một tín điều ... Tuy nhiên, bà đâu buộc phải TIN LÀ CÓ NGƯỜI NÀO ĐÓ Ở TRONG ẤY!!!
Xét-định hời-hợt trên đây có lẽ cống hiến cho chúng ta thấy cách thức diễn giải tốt nhất mà ngày nay người ta thường dùng để trình bày Hỏa Ngục cho những ai không hề nghĩ đến Hỏa Ngục, hoặc cho những ai thường đùa-cợt về bản chất Hỏa Ngục và mối nguy một ngày chính họ cũng rơi vào Hỏa Ngục!
Trước mầu nhiệm đau thương này, trước tiên chúng ta nên hạ mình khiêm tốn. Ngay cả khi lý trí hạn hẹp không thể hiểu trọn vẹn tính chất nghiêm trọng của tội nặng xúc phạm đến Uy-Linh Cao-Cả vô biên của THIÊN CHÚA như thế nào, cũng như sự trừng phạt khủng khiếp của Hỏa Ngục ra sao .. Dầu vậy, đã có các vị thánh từng nói: sự ác-độc của một tội nặng lớn lao đến độ một Hỏa Ngục đời đời cũng không đủ để đền bù cho tội lỗi ghê ghớm này .. Dĩ nhiên các thánh nhận được những luồng ánh sáng khác với chúng ta.
Tại sao cha ông chúng ta dễ tin về Hỏa Ngục hơn chúng ta?
Trước tiên bởi vì các ngài không bị đầu độc bởi một thứ giáo huấn thuần-lý và duy-vật như chúng ta hít thở ngày nay qua mọi lỗ-chân-lông của làn da và mọi sợi-tơ của linh hồn. Tính cách thế-tục bó buộc đã làm hao mòn Đức Tin của người đương thời, ngay cả các tín hữu Công Giáo.
Tín điều về Hỏa Ngục đặc biệt rơi vào khinh-bỉ của dửng-dưng, nếu không muốn nói là lố-bịch ..
Có điều Hỏa Ngục vẫn tiếp tục hiện hữu như mọi tín điều khác của Đức Tin và cái nghịch-đạo không khấu-trừ được sự hiện hữu cũng như những khủng khiếp của Hỏa Ngục ...
Ngoài ra còn một lý do khác, không phải nhỏ. Đó là, chính nền giáo huấn của Kitô-Giáo cũng giảm sút, không dám nói nhiều đến Hỏa Ngục.
Cái duy-lý xen vào cách vô-tâm hay ý-thức? Có lẽ như thế! Hoặc vì thiếu Đức Tin chăng? Chắc chắn vậy!
Các Giáo Phụ đâu hết rồi? Và gần nhất là thánh Alfonso Maria de Liguori (1696-1787), thánh Gioan Bosco (1815-1888), thánh Jean-Marie Vianney (1786-1859), Cha Sở họ Ars, vv,?
Nhưng chỉ cần đọc Phúc Âm thật nghiêm chỉnh: ”Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào Lửa Đời Đời, nơi dành sẵn cho tên Ác-Quỷ và các sứ thần của nó” (Matthêô 25,41).
Bất cứ ai chăm chú đọc cuốn sách này của Cha Giuseppe Tomaselli - Linh Mục trừ quỷ - thánh thiện và uyên thâm (từng biết nhiều điều qua chính miệng của ma quỷ), đều không thể không đi đến kết luận giống như vị Đại Tá ở đầu cuốn sách: ”Tôi thấy rõ các Linh Mục không tìm cách đánh-lừa dân chúng khi nói với họ về Hỏa Ngục. Lý chứng quý vị đưa ra quá vững, quá đủ để có thể tin Hỏa Ngục hiện hữu! Quý vị có lý!”.

1. CHIẾN ĐẤU VÀ .. BẠI TRẬN

Một người đang chăm chú làm việc trong phòng. Bỗng tên quỷ mon men đến gần cách vô hình nhưng có thật. Hắn gợi lên trong trí tưởng tượng người này những cảnh phạm tội. Nhưng người này xua đuổi ngay tức khắc. Màn cám dỗ đầu tiên thất bại nhưng tên quỷ không nản. Hắn gợi lại cảnh phạm tội mạnh hơn nữa. Hắn trình bày cùng cảnh tượng nhưng lần này với mầu sắc sặc-sỡ hơn và quyến-rũ hơn. Linh hồn đáng lẽ phải vội chạy đến cùng THIÊN CHÚA với lòng khiêm tốn thay vì dừng lại cãi cọ với tên quỷ. Nhưng khốn thay, trong một động tác kiêu-căng, linh hồn chủ ý nhìn cơn cám dỗ cho rõ hơn. Hãnh diện về chiến thắng đầu tiên, tên quỷ thật phấn-khởi và tiến tới:
- Vậy tại sao, hỡi linh hồn, người không chấp nhận?
- Ta không chấp nhận, bởi lẽ THIÊN CHÚA cấm điều ấy.
- Nhưng đâu có gì xấu khi làm điều ấy? Người không làm chủ ý-muốn của mình sao? Thôi mà, cứ chấp nhận đi!
- Ta sợ bị THIÊN CHÚA trừng phạt.
- Nhưng người không biết THIÊN CHÚA nhân lành và Ngài thường thương xót sự yếu đuối của con người sao?
- Hẳn là như thế! Nhưng ta cũng biết rằng THIÊN CHÚA công minh và Ngài trừng phạt tội lỗi vô cùng nghiêm khắc.
- Đồng ý, nhưng Ngài rất ít khi dùng đến nghiêm khắc. Hơn nữa, rồi người sẽ xưng tội mà!
- Và nếu ta không kịp giờ thì sao?
- Nhưng người chưa nằm trên giường chết mà!
Trong khi cuộc chiến đấu diễn ra, ánh sáng từ từ mờ đi trong linh hồn người này. Ý chí cũng dần dần mất đi sức kháng-cự và cuối cùng, người này sa chước cám dỗ.
Con người đáng thương nghĩ mình sẽ tìm được hạnh phúc; nhưng chỉ khoảnh khắc ngắn sau đó, đã phải nếm ngay mùi cay đắng do tội lỗi gây ra.
Giờ đây con người cảm thấy xấu hổ với chính mình. Có thật là con người chỉ có một mình trong phòng không? Đôi mắt sợ hãi dáo dác nhìn chung quanh mọi xó xỉnh. Con người e rằng có nhiều ánh mắt đang nhìn mình, y như thể tội lỗi ghi rõ trên trán mình .. Tiếng nói cắn-rứt làm cho nghe rõ mồn-một.
- Adong, Adong con đã làm gì? Lời Chúa phán cùng ông tổ loài người sau khi ông tổ phạm tội. Giờ đây tới phiên con người, ôi linh hồn bất hạnh, THIÊN CHÚA cũng ngỏ lời trách cứ y như thế.

2. CUỘC HỎI ĐÁP

Chuyện bị quỷ ám có thật. Cả bốn thánh sử - cùng các giáo sử - đều ghi lại vô số các câu chuyện. Ma quỷ - với phép của THIÊN CHÚA - có thể chiếm hữu thân thể con người, cũng như thú vật hoặc nơi chốn nào đó. Sách Nghi Thức Roma (Nghi Thức Trừ Quỷ) chỉ cho chúng tôi những dấu hiệu để nhận ra trường hợp nào bị quỷ ám thật sự.
Trong bao năm trời, tôi có dịp cử hành nhiều nghi thức trừ quỷ chống Satan. Tôi xin thuật lại một trong các buổi trừ quỷ đó.
Đức Giám Mục bản quyền giao cho tôi sứ vụ xua trừ quỷ dữ ra khỏi thân xác của một thiếu nữ. Cô gái này - sau các khảo sát nghiêm chỉnh của các chuyên gia - được nhìn nhận là hoàn toàn lành mạnh về thể lý cũng như tinh thần. Cô có một kiến thức hết sức thô-thiển, vì chỉ xong bậc tiểu học. Vậy mà, ngay khi tên quỷ nhập vào người, cô gái liền hiểu được các cổ-ngữ, đọc được những điều trong tâm trí người khác. Trong phòng cô xảy ra đủ thứ hiện tượng dị thường: tiếng động chát chúa của kính vỡ tung, tiếng cửa ập rầm rầm, bàn ghế tự động di chuyển, vật dụng bị hất tung từ các ngăn tủ và nằm la liệt trên sàn nhà, vv và vv.
Tại các buổi trừ quỷ có sự tham dự của nhiều người trong đó có một Linh Mục và một giáo sư sử học và triết học. Vị giáo sư ghi chép với mục đích sẽ phổ biến sau đó.
Tên quỷ nhận lệnh phải xưng danh và trả lời các câu hỏi.
- Tôi tên Melid. Tôi chiếm cơ thể cô gái và tôi không rời nó, bao lâu cô không ưng chịu điều cô biết rõ.
- Giải thích rõ ràng hơn!
- Tôi là quỷ ô-uế. Cô gái này sẽ bị tôi hành hạ cho đến khi nào cô quyết định phạm những điều ô-uế.
- Nhân danh Chúa, nói cho ta biết: trong Hỏa Ngục có những người bị trầm luân vì phạm tội ô-uế không?
- Tất cả mọi người trong Hỏa Ngục, không trừ ai, bị phạt xuống Hỏa Ngục đều vì tội này.
Vị giáo sư cũng muốn được hỏi vài câu.
- Trước khi trở thành quỷ, ngươi là ai?
- Tôi là thiên thần Chérubin .. một phẩm trật cao cấp của Triều Đình Thiên Quốc.
- Các người đã phạm tội gì với tư cách Thiên Thần của Trời cao?
- Không nên nhập thể làm người .. Vị Ấy, Đấng Tối Cao, mà lại hạ mình như thế ... Không, Vị Ấy không nên làm như thế!
- Nhưng các người không biết là sẽ bị phạt trầm luân trong Hỏa Ngục nếu các người dám phản loạn chống lại THIÊN CHÚA sao?
- THIÊN CHÚA nói là Ngài sẽ thử thách chúng tôi nhưng Ngài không nói là Ngài sẽ trừng phạt chúng tôi như thế này. Hỏa Ngục! ... Hỏa Ngục! ... A! ... Mấy ông không thể nào hiểu được, mấy ông, không thể hiểu thế nào là Lửa Đời Đời ...
Tên quỷ nói điều này với giọng vừa phẫn-nộ vừa tuyệt-vọng.

3. HỎA NGỤC

Vậy Hỏa Ngục là gì mà người ta thường nói đến với đủ thứ luận-điệu, có đúng có sai, và chúng tôi lại muốn nghiên cứu cách nghiêm chỉnh?
Thưa đây là trừng phạt THIÊN CHÚA dành cho các Thiên Thần phản loạn cũng như cho con người khi bất tuân mệnh lệnh của Ngài và chết mà chưa hòa giải với Ngài.
Trước hết chúng tôi minh chứng Hỏa Ngục hiện hữu. Sau đó chúng tôi nghiên cứu bản chất Hỏa Ngục. Rồi chúng tôi đi đến những kết luận thực tiễn.
Trí thông minh con người - trước khi chấp nhận một chân lý - cần có những bằng chứng đáng tin. Vì đây là một chân lý mang theo nhiều hậu quả trầm trọng cho chính cuộc sống con người hiện tại và tương lai nên chúng tôi sẽ nghiên cứu các chứng-cớ của luận-lý, của Mặc-Khải và của lịch-sử.

4. LÝ LẼ

Loài người - thường bất công - đều đồng loạt chấp thuận: người tốt được thưởng và kẻ dữ bị phạt.
Sinh viên đầy thiện chí đáng được giáo sư khích lệ, trong khi học trò lười biếng bị chê bai vì thất bại.
Trên ngực chiến sĩ anh dũng người ta gắn quân chương tưởng thưởng, còn tên lính đào ngũ bị xử tử.
Công dân liêm chính được hưởng các quyền lợi nhưng tên côn đồ bị tống ngục.
Lý trí bình thường không hề chống đối việc tội nhân phải bị trừng phạt thích đáng.
THIÊN CHÚA công minh, tuyệt đối công minh. Chúa ban cho con người tự do. Chúa ghi khắc vào lòng mỗi người lề luật tự nhiên: làm điều lành và lánh điều dữ. Chúa cũng công bố lề luật tích cực tóm lược trong 10 Điều Răn. Thử hỏi chúng ta có thể nghĩ rằng Vị Lập Pháp Tối Cao từng ban hành các Giới Răn cho loài người để rồi sau đó làm ngơ trước cách thức loài người tiếp nhận để làm điều lành hoặc để làm điều dữ sao???
Voltaire (1694-1778) - một triết gia vô luân thường đạo lý - cũng buộc phải thú nhận trong tác phẩm của ông (Luật Tự Nhiên) rằng: ”Nếu mọi thọ tạo minh chứng cho chúng ta thấy sự hiện hữu của một Đấng Khôn Ngoan vô biên, thì lý trí cũng nói cho chúng ta biết Ngài là Đấng Công Minh vô tận. Nhưng làm thế nào để xử sự công minh nếu Ngài không biết thưởng cũng chẳng biết phạt?”. Nhiệm vụ của mọi Vua Chúa là sửa trị các hành vi xấu và ân thưởng các việc làm tốt. Phải chăng quý vị muốn rằng Sự Nghiêm Minh của THIÊN CHÚA lại thua xa nền công lý của loài người sao?

5. MẶC KHẢI

Trong tầm hiểu biết các chân lý Đức Tin thì lý trí đáng thương của loài người không đi xa bao nhiêu. Do đó, THIÊN CHÚA, Chân Lý Tối Cao, đã rộng lượng mặc khải cho loài người một số mầu nhiệm: con người được tự do chấp nhận hoặc khước từ, nhưng vào thời qui định, con người phải trả lẽ (tính sổ) về các dụng-tâm cố-ý của mình.
Mặc Khải thần linh chứa đựng trong Kinh Thánh được chia thành hai phần: Cựu Ước và Tân Ước.
Trong Cựu Ước THIÊN CHÚA phán bảo cùng các Tiên Tri. Các Tiên Tri là phát-ngôn-viên của Đấng Tối Cao cạnh dân Do Thái, vì từ dân này sẽ sinh ra Đấng Cứu-Tinh (Messia).
Thánh vương Đavít viết: ”Ước gì ác nhân phải nhục nhã mà ngậm miệng sa xuống âm ty” (Thánh Vịnh 31,18).
Tiên tri Isaia viết: ”Mọi người sẽ thấy xác những kẻ phản loạn chống lại Ta, và giòi bọ rúc rỉa chúng sẽ không chết, Lửa thiêu đốt chúng sẽ không tàn lụi” (Isaia 66,24).
Vị Tiền Hô của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Thánh Gioan Tẩy-Giả, để chuẩn bị tâm trí người đương thời của Ngài đón nhận Đấng Cứu-Tinh, đã rao giảng: sứ vụ của Đấng Cứu Thế là thưởng người lành và phạt kẻ dữ. Thánh nhân dùng dụ ngôn: ”Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào Lửa không hề tắt mà đốt đi” (Matthêô 3, 12).

6. CON THIÊN CHÚA

Vào thời viên-mãn, cách đây hơn 2 ngàn năm, khi Roma sống dưới triều đại hoàng đế Cesare Ottaviano Augusto, Đức GIÊSU KITÔ, Con THIÊN CHÚA, đã xuất hiện trong thế giới. Đó là khởi đầu Tân Ước.
Ai có thể chối bỏ tính chất đích thực của việc Đức GIÊSU đến trên trái đất này? Không có sự kiện lịch sử nào được xác nhận với nhiều bằng chứng như thế! Con THIÊN CHÚA minh chứng Thần-Tính của Ngài bằng những phép lạ cả-thể sáng chói nhất, và với những ai còn nghi ngờ, Ngài lớn tiếng thách thức:
- Hãy làm cho Ta chết đi và sau ba ngày Ta sẽ sống lại. Hãy phá đền thờ do tay con người làm nên và trong ba ngày, Ta sẽ tái thiết, không phải bằng bàn tay con người .. ”Như ông Giôna ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm thế nào, Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy” (Matthêô 12,40) ...
Sự phục sinh của Đức Chúa GIÊSU là bằng chứng vĩ đại nhất Thần-Tính của Ngài.
Con THIÊN CHÚA làm các phép lạ với mục đích gì? Thưa là để khẳng định tính chất xác thực giáo huấn của Ngài.
Với chủ ý khi Đức Chúa GIÊSU phán: ”Thầy là Ánh Sáng, ai theo Thầy sẽ không phải đi trong bóng tối nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Gioan 8,12).
Sứ mệnh của Đấng Cứu Thế là cứu thoát nhân loại khỏi tội lỗi và đưa nhân loại trở lại chính lộ dẫn về quê Trời.
Người lành sẵn sàng lắng nghe và ngoan ngoãn thực thi giáo huấn của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Để khuyến khích họ kiên trì trong sự thiện, Ngài thường nhắc nhở họ về phần thưởng cao trọng dành cho người công chính trên Thiên Đàng: ”Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở vì phần thưởng dành cho anh em ở trên Trời thật lớn lao” (Matthêô 5,11). Anh em hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên Trời” (Luca 10,20). ”Khi anh đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, anh mới thật có phúc: vì anh sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Luca 14,13-14). ”Thầy sẽ trao vương quốc cho anh em như CHA Thầy đã trao cho Thầy” (Luca 22,29).

7. HÌNH PHẠT ĐỜI ĐỜI

Người lành và những ai chỉ muốn điều thiện, chỉ cần lời hứa được thưởng - nghĩa là lên Thiên Đàng - đủ để giữ họ trong đường ngay nẻo chính. Còn kẻ ác, trái lại, nạn nhân của các dục vọng, thì chỉ có thể kéo họ ra khỏi đường xấu bằng đe dọa bị trừng phạt. Chính vì thế mà đứa con hiếu thảo thường thi hành cả những ước muốn nhỏ bé nhất của thân phụ để người được hài lòng và vui hưởng sự trìu mến của mình. Bấy nhiêu đủ để cảm thấy tràn trề hạnh phúc. Trong khi đứa con phản loạn thì phải dùng đến roi đòn mới làm cho nó hiểu.
Đức Chúa GIÊSU thấy quá rõ cái ác tâm của số đông những người cùng thời với Ngài. Ngài cũng thấy trước con người không thay đổi bao nhiêu trong tương lai: họ bịt tai trước các lời giáo huấn của Ngài. Tuy nhiên, Đức Chúa GIÊSU KITÔ vẫn muốn cứu tất cả mọi người. Vậy thì phải dùng đến lý-chứng nào mới có thể thuyết phục được họ? Thưa chỉ có cách là đe dọa bằng hình phạt, hình phạt ở thế giới bên kia dành cho tất cả những ai làm điều ác, nghĩa là sẽ bị rơi vào Hỏa Ngục. Như thế chứng cớ nền tảng Hỏa Ngục hiện hữu đến từ chính ngôn-từ của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Nhất định từ chối - hay ít ra chỉ nghi ngờ về lời khẳng đ?nh của THIÊN CHÚA nhập thể làm người - thì chẳng khác gì hủy diệt toàn bộ Phúc Âm, xóa bỏ lịch sử và từ chối ánh sáng mặt trời.

8. CHÍNH THIÊN CHÚA PHÁN

Người Do Thái tưởng rằng họ có quyền đi thẳng về quê Trời, bởi lẽ họ là con cái dòng dõi tổ phụ Abraham. Nhưng vì họ ngoan cố trước các giáo huấn thần linh và từ chối đặc tính cứu-tinh của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, nên họ bị cảnh cáo phải chịu các hình khổ của Hỏa Ngục: ”Tôi nói cho các ông hay, từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp trong Nước Trời, nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Matthêô 8,11-12).
Khi chứng kiến các cớ gây sa ngã của thời Ngài và thời các thế hệ tương lai, nên muốn đưa kẻ dữ trở về đường ngay nẻo chính và đề phòng người lành khỏi làm điều ác, Đức Chúa GIÊSU đã phải nhắc đến Hỏa Ngục bằng những lời lẽ khá cứng rắn: ”Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã” (Matthêô 18,7).
”Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa Hỏa Ngục, phải vào Lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào Hỏa Ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước THIÊN CHÚA còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào Hỏa Ngục, nơi giòi bọ không hề chết và Lửa không hề tắt” (Máccô 9,43-48).
Với lời lẽ trên đây, Đức Chúa GIÊSU KITÔ muốn nhấn mạnh rằng cần phải sẵn sàng chấp nhận bất cứ hy sinh nào, ngay cả những hy sinh đau thương nhất như chặt đứt tay chân chẳng hạn, còn hơn là bị quăng vào Lửa Đời Đời.
Thầy Chí Thánh, để khuyến khích con người tận dụng mọi khả năng Chúa ban như trí thông minh, thân xác, của cải vật chất, đã dùng đến dụ ngôn những yến bạc và kết thúc dụ ngôn với lời dành cho người đầy tớ xấu xa và lười biếng: ”Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, nó sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Matthêô 25,30).
Khi Đức Chúa GIÊSU loan báo ngày tận thế với sự sống lại sau hết, đã ám chỉ cuộc trở lại vinh quang của Ngài với hai loại người lành dữ và nói thêm: ”Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên trái rằng: ”Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào Lửa Đời Đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó” (Matthêô 25,41).
Mọi người đều đứng trên bờ vực thẳm Hỏa Ngục, bởi vì bao lâu còn sống trên cõi đời này, không ai tránh khỏi nguy hiểm phạm tội. Ngay cả với các môn đệ, Đức Chúa GIÊSU cũng luôn luôn nhắc nhở hiểm nguy Hỏa Ngục. 72 môn đệ được Ngài sai đi xuyên qua làng mạc, phố xá để rao giảng Nước THIÊN CHÚA, chữa lành bệnh tật và xua trừ quỷ dữ ra khỏi những người bị chúng ám hại. Các môn đệ trở về hớn hở thưa với Chúa: ”Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. Đức Chúa GIÊSU liền bảo các ông: ”Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống” (Luca 10,17-18). Nói như thế, Đức Chúa GIÊSU muốn ngăn chặn các ông khỏi tội kiêu căng khi thấy gặt hái thành công. Bởi vì cũng chính tội kiêu ngạo đã khiến Satan lao thẳng từ Trời xuống Hỏa Ngục. ”Đức Chúa GIÊSU mời chàng thanh niên giàu có: ”Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên Trời. Rồi hãy đến theo Thầy”. Nhưng người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải. Thấy vậy Đức Chúa GIÊSU nói với các môn đệ: ”Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước THIÊN CHÚA”. Nghe vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói: ”Thế thì ai có thể được cứu?”. Đức Chúa GIÊSU nhìn thẳng vào các ông và nói: ”Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với THIÊN CHÚA thì mọi sự đều có thể được” (Matthêô 19,21-26).
Đức Chúa GIÊSU không có ý kết án của cải - bởi vì tự nó của cải không xấu - nhưng Ngài chỉ muốn nhấn mạnh rằng thật nguy hiểm biết bao khi người giàu chỉ biết bám chặt vào của cải đến nỗi quên mất việc thực thi lề luật cao cả là đức bác ái. Để làm sáng tỏ giáo huấn, Đức Chúa GIÊSU nói về dụ ngôn ông nhà giàu và anh Ladarô nghèo khó:
... Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khổ tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham. Ông nhà giàu cũng chết và người ta đem chôn.
... Dưới Hỏa Ngục (trong Âm Phủ), đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Abraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: ”Lạy tổ phụ Abraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị Lửa thiêu đốt khổ lắm!”. Ông Abraham đáp: ”Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nơi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được”.
... Ông nhà giàu nói: ”Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!”. Ông Abraham đáp: ”Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó!”. Ông nhà giàu nói: ”Thưa tổ phụ Abraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối”. Ông Abraham đáp: ”Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin đâu!” (Luca 16,19-31).
Trong dụ ngôn do chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ giảng dạy, ngoài một lý chứng vững chắc về Hỏa Ngục hiện hữu, còn thêm luận cứ khác để trả lời cho những ai dám thách thức: ”Tôi sẵn sàng tin Hỏa Ngục hiện hữu nếu có kẻ nào đó từ Hỏa Ngục hiện về nói cho tôi biết!”. Người nói câu này thường ở trên con đường xấu và họ sẽ chẳng chịu tin hơn nếu có người từ cõi chết sống lại. Nếu, giả thiết rằng, vào ngày hôm nay, có ai đó đến từ Hỏa Ngục, thì những kẻ dữ thường không muốn tin Hỏa Ngục hiện hữu, sẽ không ngần ngại tuyên bố: ”Đây là một tên điên. Đừng thèm nghe hắn!”.

9. CON SỐ NHỮNG NGƯỜI BỊ SA VÀO HỎA NGỤC

Vì Đức Chúa GIÊSU KITÔ thường nói về Trời Cao và Hỏa Ngục nên một ngày các Tông Đồ hỏi Ngài: ”Thưa Thầy, những người được cứu rỗi có nhiều không?”. Đức Chúa GIÊSU trả lời cách mơ hồ như thể không muốn cho loài người biết mầu nhiệm này: ”Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Matthêô 7,13).
Phải hiểu thế nào về câu nói này của Thầy Chí Thánh?
Đường sự lành thì cam-go vì để đi trên con đường này phải hãm dẹp các dục vọng và sống theo giáo huấn của Đức Chúa GIÊSU KITÔ: ”Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Máccô 8,34). ”Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Matthêô 11,12).
Đường sự dữ đưa xuống Hỏa Ngục thì dễ theo và có nhiều người đi. Thật vậy, không gì thư-thái bằng buông mình theo các khoái-lạc lừa-đảo hào-nhoáng của thế gian, những khoái lạc thường nuôi dưỡng bằng kiêu-căng, nhục-dục và bủn-xỉn.
Nếu có ai hỏi: ”Có phải phần đông loài người bị rơi vào Hỏa Ngục không?”. Xin thưa: ”Chúng tôi không biết gì hết!”.
Các Giáo Phụ và các luân lý gia nói chung thường khẳng định: Có đông người được cứu rỗi. Sau đây là các lý do.
THIÊN CHÚA muốn cho mọi người được cứu rỗi. Chúa ban cho mọi người các phương thế cần thiết để đạt đến niềm hạnh phúc vĩnh cữu. Nhưng tất cả không dùng đến các phương thế này. Vì thế họ bị suy-nhược và dễ trở thành mồi ngon cho Satan ngay tại đời này và sau đó nơi thế giới bên kia. Tuy nhiên hình như có đông người được lên Thiên Đàng, thể theo Lời Kinh Thánh: ”Trông cậy Chúa đi Israel hỡi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” (Thánh V?nh 129,7).
”Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Matthêô 26,27-28).
Như vậy có số đông người được hưởng ơn Cứu Chuộc của Đức GIÊSU KITÔ Con THIÊN CHÚA xuống thế làm người.
Bây giờ cùng nhìn về phía nhân loại. Một phần ba loài người chết trước khi có tuổi khôn, nghĩa là chưa có thể phạm tội trọng. Những người này chắc hẳn không bị rơi vào Hỏa Ngục.
Rồi có số đông những người hoàn toàn không biết gì về Đạo Công Giáo. Đó không do loai họ, bởi vì họ sống trong những vùng chưa được ánh sáng Phúc Âm soi chiếu. Họ chỉ sống theo lề luật tự nhiên và như thế chắc hẳn cũng không bị sa vào Hỏa Ngục, bởi vì THIÊN CHÚA Công Minh, không trừng phạt những ai vô tội.
Và có những người bị coi là ”không tôn giáo .. vô đạo .. gian ác”, nhưng tất cả không kết thúc trong sự dữ, bởi lẽ vào cuối đời, khi các đam mê giảm bớt, họ thường dễ dàng trở về với THIÊN CHÚA. Nhiều người khác, nhờ những kinh nghiệm đau thương khiến họ bừng tỉnh, trở về với đường ngay nẻo chính và được ơn chết lành.
Trên giường chết, ơn Chúa Nhân Lành thường tuôn đổ dồi dào, nhờ lời cầu nguyện và hy sinh của thân nhân và nhiều người đạo đức, mỗi ngày sốt sắng cầu nguyện cho những người hấp hối.
Với những suy tư trên đây cho phép chúng tôi kết luận rằng, mặc cho con số thế nào đi nữa những người đi theo đường xấu, vẫn có số đông những người hòa giải với THIÊN CHÚA trước khi chết.

10. VỊ TƯỚNG NGA

Đức Cha Louis-Gaston de Ségur (1820-1881) là quý tử của bá tước Eugène de Ségur và nữ bá tước Sophie Rostopchine. Ngài là vị Giám Mục lỗi lạc từng viết nhiều tác phẩm huấn đức thiêng liêng. Một trong các tác phẩm của ngài minh chứng sự hiện hữu của Hỏa Ngục. Đức Cha viết.
Câu chuyện xảy ra tại Moscou vào năm 1812 ngay trong gia tộc tôi. Ông Ngoại tôi - tử tước Fédor Rostopchine (1765-1826) - lúc ấy là thống đốc quân sự tại Moscou. Ông Ngoại kết thân với tử tước Orloff, một người tài giỏi, nhưng lại khô khan đạo nghĩa.
Một buổi tối, sau khi dùng bữa, tử tước Orloff bắt đầu nói chuyện vui đùa với một vị tướng - tạm gọi là tướng Victor - vốn theo triết thuyết ”hoài nghi” của Voltaire (Francois Marie Arouet Voltaire 1694-1778). Dần dần câu chuyện đưa đến vấn đề tôn giáo, thường bị hai người chọn làm đề tài chế nhạo. Và dĩ nhiên, trong đó có đề tài Hỏa Ngục.
Tử tước Orloff khiêu khích trước. Ông nói:
- Không rõ bên kia nấm mồ, có cái gì khác hiện hữu không?
Tướng Victor đáp liền:
- Được rồi! Nếu quả thực có cái gì đó, thì một người trong hai chúng ta, ai chết trước, sẽ hiện về báo cho người kia biết. Anh đồng ý không?
Tử tước Orloff gật đầu nói:
- Đồng ý!
Rồi ông giơ tay bắt tay bạn như cử chỉ giao kèo: phải trung tín giữ lời đã hứa!
Sau đó một tháng, tướng Victor nhận lệnh rời thủ đô Moscou để đảm trách một chức vụ quan trọng trong quân lực Nga hoàng vì hoàng đế Napoléon I (1769-1821) của nước Pháp vừa tuyên chiến với nước Nga.
3 tuần sau, vào sáng sớm tinh sương, tướng Victor đi một vòng để do thám địa điểm của địch quân. Bỗng ông bị một viên đạn bắn xuyên bụng. Ông gục ngã và chết ngay tại chỗ. Chính lúc đó, linh hồn ông trình diện trước tòa THIÊN CHÚA.
Tử tước Orloff đang ở Moscou và không hay biết gì về thảm họa xảy đến cho bạn mình. Vậy mà, cùng ngay buổi sáng hôm ấy, mặc dầu đã thức giấc, tử tước Orloff vẫn còn nằm rán lại trong giường. Bỗng chốc, ông trông thấy chiếc màn che giường động đậy, rồi, chỉ cách đó hai bước, xuất hiện rõ ràng gương mặt tái mét của người quá cố. Tướng Victor, một tay đặt trên ngực, dõng dạc tuyên bố:
- Quả thật có Hỏa Ngục và tôi đang bị trầm luân trong ấy!
Nói xong, người quá cố biến mất.
Tử tước Orloff nhảy ra khỏi giường, mình mặc nguyên bộ đồ ngủ, chân mang dép ngủ, đầu tóc bù xù, đôi mắt thất thần, gương mặt nhợt nhạt như một miếng giẻ rách. Ông đâm đầu chạy một mạch đến nhà Ông Ngoại tôi - tử tước Rostopchine - kể cho Ngoại nghe câu chuyện vừa xảy ra. Lúc ấy Ngoại cũng vừa thức dậy. Ngoại kinh ngạc khi thấy tử tước Orloff xuất hiện như một tên điên. Ngoại hỏi ngay:
- Có chuyện gì xảy ra cho tử tước vậy?
Tử Tước Orloff vừa thở hổn hển vừa trả lời:
- Tôi nghĩ sẽ bị điên vì sợ hãi quá độ. Tôi vừa trông thấy tướng Victor! Ngoại không hiểu nên hỏi:
- Ủa, tướng Victor đã về lại Moscou rồi sao?
Tử tước Orloff vừa sà người trên chiếc đi-văng vừa đáp liền:
- Ồ, không phải vậy! Ông không bao giờ trở lại nữa, và đây mới là điều làm tôi kinh hoàng!
Nói xong, tử tước Orloff thuật lại cuộc hiện về của tướng Victor, với đủ mọi chi tiết nghe thật rợn rùng!
Ông Ngoại tôi tìm lời trấn an tử tước Orloff, lấy lý do có lẽ ông chỉ là nạn nhân của một ảo tưởng. Và rất có thể, tướng Victor chưa chết!
Thế nhưng, 10 ngày sau, quân lực Nga hoàng gởi điện cho Ngoại tôi báo tin tướng Victor đã tử nạn, vào đúng buổi sáng mà tử tước Orloff trông thấy ông hiện về.

11. MỘT PHỤ NỮ THÀNH NAPOLI

Câu chuyện được ghi trong sử liệu thánh Francesco di Girolamo, một vị thánh rất nổi tiếng. Ngài là Linh Mục dòng Tên, chào đời ngày 17-12-1642 tại Taranto, nhưng hoạt động tông đồ và qua đời ngày 11-5-1716 tại Napoli, miền Nam nước Ý. Mục vụ đặc sắc nhất của ngài là giảng các tuần đại phúc. Vào thời kỳ ấy, các buổi giảng thuyết thường diễn ra nơi các đường phố, tại các công viên, giữa các quảng trường, hay trong các khu vực có những nhà điếm. Mục đích của thánh nhân là mời gọi mọi người hồi tâm thống hối, trở về cùng THIÊN CHÚA và sống ngay chính.
Một hôm, thánh Francesco di Girolamo thuyết giảng trước một đám thật đông dân chúng, kéo đến nghe ngài nơi quảng trường thành phố Napoli. Gần đó, trong căn nhà có cửa sổ nhìn xuống quảng trường, có một phụ nữ trắc nết sinh sống. Với chủ đích quấy phá và lấn át tiếng nói của vị thánh, bà cất tiếng la hét ầm ĩ và múa máy lung tung. Mọi lời khuyến cáo bà im đi, đều vô hiệu. Thánh Girolamo đành bỏ dở buổi giảng thuyết hôm ấy.
Ngày hôm sau, thánh nhân trở lại giảng nơi chỗ cũ. Ngạc nhiên vì thấy cửa sổ phòng bà đóng kín mít, thánh nhân hỏi lý do tại sao. Người ta cho biết bà ta bất ngờ qua đời trong đêm. Thánh nhân liền nói:
- Chúng ta hãy đi xem bà!
Một số đông đi theo ngài và trông thấy xác bà còn nằm sóng soài dưới đất. Như được linh hứng, thánh Girolamo cất tiếng hỏi:
- Hỡi Catarina, nhân danh Chúa, hãy nói cho mọi người đang có mặt nơi đây biết bà đang ở đâu.
Tức khắc, đôi mắt người quá cố hé mở, đôi môi động đậy. Rồi bằng một giọng khàn khàn, khủng khiếp, bà trả lời:
- Ở trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân trong Hỏa Ngục đời đời kiếp kiếp! Mọi người hiện diện toát mồ hôi lạnh, dựng tóc gáy! Lúc xuống cầu thang, thánh Girolamo lẩm nhẩm lập lại:
- Trong Hỏa Ngục mãi mãi .. Ôi THIÊN CHÚA công minh, đáng run sợ biết là chừng nào!
Đa số những người chứng kiến cảnh tượng hãi hùng hôm đó không muốn trở về nhà, trước khi xét mình kỹ lưỡng, thành tâm thống hối và sốt sắng lãnh bí tích Giải Tội.
Linh Mục Francesco di Girolamo được Đức Giáo Hoàng Pio VII (1800-1823) tôn phong chân phước ngày 2-5-1806 và Đức Giáo Hoàng Gregorio XVI (1831-1846) nâng lên hàng hiển thánh ngày 26-5-1839. Trong hồ sơ xin phong thánh cho ngài có ghi lại chứng từ:
- Con có mặt trong biến cố kinh hoàng ấy. Nhưng con không biết trình bày ra sao, diễn tả như thế nào cho đúng tâm tình của con cũng như của mấy người khác. Con chỉ biết nói một điều là cứ mỗi lần có dịp đi ngang quảng trường và trông thấy cánh cửa sổ ấy, con như còn nghe rõ tiếng nói khàn khàn khủng khiếp: ”Trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân đời đời trong Hỏa Ngục!”.

12. TẠI KINH THÀNH VĨNH CỮU

Câu chuyện xảy ra tại Roma vào năm 1873. Nơi căn nhà của các cô gái làng chơi - hành nghề mại dâm - có một cô gái bị thương nơi tay. Vết thương ban đầu tưởng nhẹ bỗng trở nặng cách bất ngờ. Cô gái được đưa vào bệnh viện và qua đời ngay đêm ấy.
Trong cùng đêm đó, nơi căn nhà mại dâm, một cô gái khác không hay biết gì về điều chẳng lành xảy đến cho bạn mình ở bệnh viện. Nhưng cô cất tiếng hét ầm ĩ, gây xáo trộn trong nhà và làm náo động các căn nhà chung quanh. Không ai làm cho cô im được. Người ta phải gọi cảnh sát đến can thiệp. Sau cùng, cô kể cho mọi người nghe như sau.
Người bạn gái qua đời ở bệnh viện hiện về với thân mình rực lửa và nói: - Tôi bị trầm luân muôn kiếp trong Hỏa Ngục. Vậy nếu cô không muốn bị cùng số phận như tôi, thì hãy tức khắc rời bỏ cái chốn nhơ nhớp này và trở về cùng THIÊN CHÚA!
Kể xong, cô đứng ngồi không yên và mong cho trời mau sáng, để cô dọn đồ ra khỏi nhà. Mọi người ngỡ ngàng và càng kinh ngạc hơn nữa khi sáng sớm hôm sau nhận tin cô gái bị thương nơi tay đã qua đời trong đêm ấy tại bệnh viện.
Về phần bà chủ căn nhà mại dâm, bà kinh hoàng đến độ, lâm trọng bệnh. Nghĩ tới cuộc hiện về của cô gái khốn khổ bị rơi xuống Hỏa Ngục, bà hồi tâm và ăn năn thống hối. Bà xin rước Linh Mục đến để lãnh các Bí Tích. Giáo quyền liền cử một Linh Mục thánh thiện. Đó là Đức Ông Sirolli, Cha Sở nhà thờ San Salvatore in Laura.
Trước sự hiện diện của nhiều nhân chứng, Đức Ông Sirolli bắt buộc bệnh nhân phải công khai phản cung các lời bà đao xúc phạm chống lại Đức Giáo Hoàng. Bà cũng phải chính thức từ bỏ việc điều hành căn nhà mại dâm ô nhục này. Bệnh nhân khiêm tốn thi hành mọi đòi buộc của vị Linh Mục. Bà sốt sắng lãnh các Bí Tích sau cùng và trút hơi thở trong ơn nghĩa Chúa. Toàn thể dân thành Roma đều biết và kể cho nhau nghe biến cố có một không hai ấy.

13. PHỤ NỮ QUÝ TỘC LUÂN-ĐÔN

Vào năm 1848 tại Luân-Đôn, thủ đô Anh Quốc, có một góa phụ trẻ đẹp 29 tuổi, giàu sang phú quý và nổi tiếng lịch thiệp hào hoa. Trong số những khách khứa thường xuyên lui tới nhà bà, người ta để ý cách riêng đến chàng trai tên Lord thuộc loại ăn chơi trác táng.
Một buổi tối sau nửa đêm, bà nằm trên giường đọc cuốn tiểu thuyết để dỗ giấc ngủ. Vừa tắt đèn, bà bỗng trông thấy một luồng ánh sáng kỳ lạ phát xuất từ cánh cửa, soi chiếu cả căn phòng, càng lúc càng sáng rực. Ngạc nhiên, bà mở to mắt nhìn, cố gắng tìm hiểu hiện tượng. Thế rồi cánh cửa từ từ mở ra, xuất hiện chàng Lord, một kẻ đồng lõa với nếp sống vô luân trắc nết của bà.
Trước khi bà kịp mở miệng nói một câu, chàng trai đã đến ngay bên giường, vừa bóp chặt cổ tay bà vừa nói:
- Có một Hỏa Ngục nơi người ta bị đốt cháy!
Nỗi đau đớn tột độ đến nỗi bà bị ngất lịm đi. Nửa giờ sau khi tỉnh lại, bà gọi người nữ giúp việc đến. Cô này khi bước vào phòng ngửi ngay mùi khét của các vật bị cháy. Cô cũng thấy ngay bà chủ bị vết phỏng nơi cổ tay khá sâu, lòi xương ra. Và trên vết phỏng có ghi dấu bàn tay của một người đàn ông. Cô cũng để ý thấy từ cửa đến giường và từ giường ra cửa, trên tấm thảm có ghi dấu chân của người đàn ông. Và nơi nào có bàn chân đặt lên thì nơi đó tấm thảm bị cháy đen.
Ngày hôm sau, người phụ nữ quý tộc trẻ đẹp này nhận tin chàng trai Lord đao qua đời ngay trong đêm hôm ấy.

14. ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC THUẬT LẠI

Thánh Antonio Pierozzi (1389-1459) là tu sĩ Đaminh và là Tổng Giám Mục Firenze, miền Bắc nước Ý. Trong các bút tích của thánh nhân có ghi lại biến cố xảy xa trong thời đại của ngài, một biến cố từng làm chấn động dư luận của người dân sống vào thời kỳ ấy.
Một thiếu niên 17 tuổi rơi vào nỗi bất hạnh to lớn là dấu kín tội trọng khi đi xưng tội. Vì xấu hổ, cậu không bao giờ dám xưng thú, dầu vậy, vẫn tiếp tục tiến lên bàn thờ rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Càng ngày càng bị cắn rứt dày vò, nhưng thay vì tự đặt mình trở về với ơn thánh Chúa, chàng trai tìm cách bù trừ tội lỗi bằng nhưong việc đền tội khe khắt. Sau cùng, chàng quyết định trở thành tu sĩ với ý nghĩ: trong dòng tu, mình sẽ xưng thú các tội phạm thánh và sẽ làm việc đền tội thật cân xứng. Trong tu viện, chàng trở thành một tu sĩ nổi tiếng đạo đức. Ai ai cũng xem chàng như một vị thánh.
Vô phúc thay, tên quỷ xấu hổ luôn giữ chàng trong gọng kìm của hắn khiến chàng không bao giờ dám thành thật xưng thú các tội trọng đã phạm. Và chàng thanh niên đáng thương tiếp tục cuộc sống phạm thượng trong vòng 3 năm nữa. Ngay trên giường chết, chàng cũng không có can đảm xưng thú mọi tội lỗi đã phạm. Rồi chàng trút hơi thở cuối cùng.
Các tu sĩ trong cộng đoàn tin rằng chàng chết trong hương thơm thánh thiện. Vì thế các vị long trọng rước di hài người quá cố và đặt nơi nhà nguyện của tu viện, đợi đến hôm sau sẽ cử hành Thánh Lễ an táng.
Sáng sớm hôm ấy, một tu sĩ đi giật chuông bỗng trông thấy người quá cố đứng trước mặt, bị xiềng bằng xích đỏ rực và toàn thân như ngọn lửa bốc cháy.
Hoảng hốt, vị tu sĩ quỳ sụp xuống, trong khi người quá cố tuyên bố: ”Đừng mất công đọc kinh cầu nguyện cho tôi. Tôi ở trong Hỏa Ngục cho đến muôn đời”. Rồi người quá cố thuật lại cho thầy dòng nghe câu chuyện thảm thương cuộc đời mình với các tội phạm thánh. Khi người quá cố biến đi đã để lại một mùi cháy khét tỏa ra trong khắp tu viện. Các Bề Trên quyết định đưa di hài ra khỏi nhà nguyện và không cử hành nghi thức an táng nào hết.

15. GIÁO SƯ NỔI TIẾNG TẠI PARIS

Thánh Alfonso Maria de Liguori (1696-1787) tiến sĩ Hội Thánh đã thuật lại câu chuyện sau đây.
Đó là thời kỳ mà Đại Học Paris đạt tột đỉnh chói sáng. Một trong các vị giáo sư lỗi lạc nhất bỗng đột ngột từ trần. Không ai có thể tưởng tượng được số phận khủng khiếp mà giáo sư đang phải chịu, kể cả vị Tổng Giám Mục Paris cũng không ngờ, bởi lẽ người quá cố là bạn thân tín của mình. Vì thế, mỗi ngày vị Tổng Giám Mục đều dâng lễ cầu cho linh hồn giáo sư quá cố.
Thế rồi một đêm đang lúc vị Tổng Giám Mục sốt sắng cầu nguyện cho bạn, ngài bõng trông thấy giáo sư quá cố xuất hiện với hình thái rực cháy và khuôn mặt buồn bã tuyệt vọng. Vị Tổng Giám Mục hiểu bạn mình đã bị trầm luân nên đặt vài câu hỏi trong đó có câu:
- Trong Hỏa Ngục, bạn còn nhớ các môn khoa học khiến bạn trở thành nổi tiếng khi còn sống trên trái đất không?
- Khoa học nào! ... Khoa học nào! ... Trong tập đoàn của quỷ dữ chúng tôi có các chuyện khác để làm và để nghĩ. Các thần dữ này không hề để chúng tôi được yên một giây lát và ngăn cản chúng tôi nghĩ đến bất cứ điều gì khác ngoài những hình khổ chúng tôi phải chịu. Các hình khổ này tự nó đã khủng khiếp lắm rồi, vậy mà quỷ dữ còn thêm vào nữa, đến độ làm cho chúng tôi phải triền miên tuyệt vọng.

CHỈ DUY NHẤT THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG TOÀN NĂNG

1. Có Đức Chúa GIÊSU KITÔ Là Có Tất Cả

Chả có gì sắp xếp trước để tôi có cuộc gặp gỡ với Satan cả! Tôi từng biết hắn hiện hữu và hắn rất mạnh. Tôi đã tin như lời Giáo Hội dạy. Chỉ đơn sơ thế thôi. Không sợ hãi cũng không bị ám ảnh. Vào thời kỳ ấy chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ chiếm trọn tâm tư tôi và vẫn còn tiếp tục chiếm trọn cho đến hôm nay và mãi mãi. Và hồng ân này tôi có được trước tiên là nhờ THIÊN CHÚA, tiếp đến là nhờ thân mẫu tôi, người mẹ tỏa sáng một Đức Tin vừa đơn sơ vừa vững chắc, đủ sức đẩy lui mọi hiểm họa của thứ đạo lý khắc khổ hoặc của niềm tin ngây ngô khờ khạo. Tôi không bao giờ quên những buổi cầu nguyện tràn đầy tin tưởng với trọn yêu thương tôi đọc với thân mẫu trước khi thiếp ngủ hoặc đọc chung với toàn thể gia đình.

Và rồi một ngày, chính Đức Chúa GIÊSU đến gặp tôi. Năm ấy tôi lên 5 hoặc 6 tuổi gì đó. Tôi ngồi bệt dưới đất và lật từng trang cuốn Truyện Kinh Thánh bằng tranh của bà chị. Tình cờ đôi mắt tôi dừng lại nơi bức họa trắng đen mô tả Cuộc Khổ Nạn: Đức Chúa GIÊSU bị đóng đinh trên Cây Thánh Giá, có Đức Mẹ và Thánh Gioan, có hai tên trộm cướp .. Bỗng chốc, thật bất ngờ, tôi bật khóc nức nở và chạy thẳng xuống nhà bếp, vừa nép mình trong chiếc áo của mẹ vừa hỏi:
- Mẹ à, làm sao mà Đức Chúa GIÊSU yêu thương chúng ta dường ấy, nhưng lại có rất ít người yêu mến đáp lại Đức Chúa GIÊSU?

Câu trả lời của mẹ không quan trọng, bởi lẽ tôi đã quên nó từ lâu lắm rồi. Nhưng điều chính yếu đã được nói, hay đúng hơn, đã được thực hiện: đó là, một cách huyền nhiệm, chính Đức Chúa GIÊSU đến gõ cửa lòng tôi và gõ cửa cuộc đời tôi, điều mà người ta gọi là Ơn Gọi! Câu trả lời được đáp lại từ từ trong thinh lặng của cuộc sống thường ngày và mãi đến rất lâu sau này tôi mới hiểu được điều đó nơi Chủng Viện. Tôi hiểu rằng: ngày hôm ấy, hạt giống Ơn Gọi được gieo vào thửa đất trinh trong tâm lòng thơ trẻ của tôi, hạt giống của một cuộc sống được chiếm hữu bởi Tình Yêu cao cả và độc nhất. Chính Tình Yêu này đã dẫn đưa tôi vào Chủng Viện ngõ hầu cuộc đời tôi được hiến dâng để làm cho mọi người biết rằng Đức Chúa GIÊSU KITÔ yêu thương mọi người biết là chừng nào.

Phải nói sao về tuổi trẻ của tôi đây? Thật ra chỉ toàn những chuyện bình thường thôi! Cuộc sống gia đình rất giản dị và đậm tình với đứa em gái, các trò chơi và các bài vở làm ở nhà, rồi đọc ngấu nghiến hàng giờ các cuốn truyện dành cho tuổi thơ và tuổi niên thiếu, các bạn học cùng lớp .. Và kinh tối mỗi ngày quỳ gối đọc nơi chân giường của tôi trước khi ngủ. Không có việc đạo đức đặc biệt (tham dự Thánh Lễ lúc 11 giờ Chúa Nhật với gia đình nơi một giáo xứ lớn trong thủ đô Paris). Nhưng hàng năm vào Ngày Thứ Năm Tuần Thánh có nghi thức thay đổi theo lượt ”bàn thờ tạm” qua các giáo xứ trong khu phố. Rồi kỷ niệm ghi khắc năm lên 5-6 tuổi về Thánh Lễ đầu tiên tôi làm chú bé giúp lễ, thể theo lời khấn hứa của hiền mẫu ngày tôi chào đời (tôi sống sót là do phép lạ mỗi ngày nhờ tình thương và sự chăm sóc của mẹ hiền). Đó là Thánh Lễ nơi nhà nguyện dâng kính thánh nữ Têrêxa Hài Đồng GIÊSU tại Cô Nhi Viện Auteuil. Vị chủ tế không ai khác là Cha Brottier (Cha Daniel Jules Alexis Brottier, C.S.Sp, 1876-1936) mà ngày nay đã được tôn phong chân phước (25-11-1984). Tôi nhớ mãi sự tiếp đón đầy tình phụ tử và bộ râu dài của Cha mang dáng dấp nhà thừa sai đã gây xúc động mạnh nơi một đứa trẻ như tôi! Kể từ ngày đó, niềm vui của tôi là được giúp lễ, những Thánh Lễ thường khiến tôi cảm thấy thoải mái hơn là những Thánh Lễ long trọng của các ngày lễ lớn .. Rồi đến chuyến viếng thăm ngắn ngủi của Dì Madeleine, nữ tử Bác Ái, trở về từ miền truyền giáo Madagascar. Nhưng nhất là, cuộc chờ đợi kéo dài đăng đẳng cho ngày rước lễ lần đầu, cho niềm ước muốn khao khát khôn nguôi được ”rước Đức Chúa GIÊSU”. Tôi phải kiên nhẫn chờ đợi mãi cho đến ngày long trọng Tuyên Xưng Đức Tin vào năm 11 tuổi. Lý do là vì hai anh chị tôi đã phải chờ đợi đến tuổi này - theo lời khuyên của một Linh Mục dòng Đa Minh không mấy hỗ trợ việc cho các trẻ còn nhỏ tuổi được rước lễ - nên thân mẫu tôi không muốn khiêu khích sự ghen tuông của hai anh chị lớn .. Tôi không nhớ gì nhiều về các buổi học giáo lý. Tôi chỉ nhớ tìm cách làm sao để mình bị dò bài cuối cùng, sau khi đã nghe các trẻ khác trả bài trước! Về buổi tĩnh tâm chuẩn bị rước lễ lần đầu tôi cũng không nhớ rõ bao nhiêu, ngoại trừ câu phương châm của thánh nữ Jeanne d'Arc (1412-1431) được Cha giảng cấm phòng nhắc lại: ”Ngài THIÊN CHÚA, ưu tiên phục vụ” (Messire DIEU, premier servi). Ngày hôm sau, tôi cảm thấy xúc động và thật trịnh trọng khi tuyên xưng:

- Con xin từ bỏ Satan, cùng các hào nhoáng của nó cũng như các hành vi của nó và con xin thề hứa mãi mãi gắn chặt vào Đức Chúa GIÊSU KITÔ.

Chính một thời gian ngắn sau ngày rước lễ lần đầu và cuộc Tuyên Xưng Đức Tin trọng thể này mà tôi bày tỏ cùng Cha Tuyên Úy niềm ước muốn trở thành Linh Mục, niềm ước muốn từ lâu vẫn nằm sâu trong tiềm thức, khi ẩn khi hiện, tùy theo hoàn cảnh mỗi nơi mỗi lúc ..
Rồi đến những năm kế tiếp nơi trường trung học và việc lui tới văn phòng Tuyên Úy, thời đất nước bị chiếm đóng trong đệ nhị thế chiến cùng những thử thách đau thương; niềm vui của những ngày nghỉ hè tung tăng tại Beaujolais nơi gia đình Chị Cả với 8 đứa con (lần lượt chào đời hoa trái của tình yêu hôn nhân đậm đà thắm thiết), hòa nhịp với niềm vui chạy nhảy thỏa chí giữa thiên nhiên hoặc làm việc bên những người trồng nho. Khi lên bậc trung học đệ nhị cấp tôi gia nhập phong trào Thanh-Sinh-Công (JEC). Đây cũng là thời kỳ đào sâu Đức Tin và thực thi những công tác tông đồ đầu đời với các bạn cùng lớp. Tôi khám phá tập sách nhỏ Suy Niệm Phúc Âm mỗi tối (tôi thường cẩn thận ghi chép một câu ngắn để nhớ nơi cuốn sổ tay). Tôi đều đặn trao đổi với Cha Tuyên Úy, tham dự các tuần tĩnh tâm và các trại hè dành cho người trẻ. Đó là thời kỳ êm ả trôi qua của tuổi dậy thì.

Nhưng một khi đã giật được mảnh bằng tú tài thì không tài nào thuyết phục được Song Thân để các ngài đổi ý. Cha Mẹ tôi quyết liệt tuyên bố:

- Con chỉ vào Chủng Viện khi nào con học hành xong xuôi và có công ăn việc làm hẳn hoi.

Tuân lệnh Song Thân tôi đành phải dành ra hai năm trọn để miệt mài trau dồi kiến thức nơi trường Cao Đẳng .. điều mà rất lâu sau này tôi mới thật lòng tri ân Cha Mẹ về quyết định khôn ngoan này. Nhưng chính trong bầu khí nặng tình gia đình mà tôi thủ đắc sự trưởng thành hữu ích, tiếp tục công tác tông đồ thời trung học, cùng lúc khám phá dịch vụ giới trẻ giữa môi trường bình dân. Dĩ nhiên cũng có những giao động của lứa tuổi dậy thì, nhưng lòng tôi thật bình lặng vì có Chúa ngự trị. Và THIÊN CHÚA canh chừng tôi. Các vấn đề siêu-hình thường xáo trộn hoặc lung lạc Đức Tin của người trẻ, nhưng Đức Tin của tôi thì không hề hấn gì! .. Tôi có thể nói như Đức Hồng Y John Henry Newman (1801-1890) rằng nếu tôi gặp trong Đức Tin của tôi nhiều thắc mắc và khó khăn thì không bao giờ tôi phải mất thời giờ chiến đấu chống lại các vấn nạn chân chính cả! (Đức Hồng Y Newmann là thần học gia được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tôn phong chân phước ngày 19-9-2010 tại Birmingham, Anh Quốc).

Ngay ngày nhập ngũ thi hành quân dịch, tôi đã được dán nhãn hiệu ”Chủng Sinh”, chỉ vì lời tôi tâm sự với vị chỉ huy. Và buổi tối đầu tiên, tôi đã gặp thử thách: sau một phút dằn co bên trong, tôi liền quỳ gối dưới chân giường để đọc kinh .. Dĩ nhiên hành động của tôi lôi kéo tức khắc sự nhạo báng của 40 tân binh .. Tối hôm sau, bầu khí chế diễu gia tăng gấp đôi để rồi lắng dịu và đi đến việc giữ chút thinh lặng tỏ dấu kính trọng buổi đọc kinh tối của tôi! Sau khoảng vài ngày thì có một tân binh bắt chước làm như tôi, rồi thêm một tân binh khác. Sau cùng chúng tôi có tất cả 4 người cùng quỳ gối nơi chân giường đọc kinh tối trước khi ngủ. Với 1 trong 4 bạn tân binh này - là chủng sinh và là con trai của một thợ hầm mỏ người Ba Lan - tôi lần hạt Mân Côi chung với anh vào buổi tối sau buổi tập dượt. Khi còi báo hiệu vang lên, chúng tôi tức khắc làm dấu Thánh Giá chấm dứt buổi đọc kinh, tôi bỗng nghe anh thì thầm: ”Và các Thánh Thiên Thần sẽ đọc tiếp phần còn lại!”. Ngạc nhiên, tôi nín thinh, nhưng mấy ngày sau tôi hỏi lý do thì anh giải thích: ”Bởi vì em gái tôi thường nói như thế!”. Anh trả lời với nụ cười rạng rỡ làm chiếu sáng khuôn mặt hồn nhiên tươi trẻ! Ôi, ”Bros” ơi! (tên chúng tôi thân thương gọi anh) phải chi anh biết tôi nhận không biết bao nhiêu ơn lành THIÊN CHÚA ban cho tôi qua trung gian của anh! .. Tôi cũng thật lòng tri ân Cha Silve, một Linh Mục trẻ và tỏa sáng thiên chức linh mục. Cha ân cần tiếp nhận tôi và nâng đỡ hỗ trợ tôi trong công tác tông đồ cạnh các tân binh!

Đầu thập niên năm mươi .. là Chủng Viện! Tôi tưởng như mình đang ở thiên đàng. Các bậc thầy đáng kính, khám phá việc suy gẫm lâu giờ, việc đọc sách thiêng liêng, nền triết học theo thánh Tommaso d'Aquino (1225-1274). Sau hai năm, tôi được gởi vào đại học Sorbonne. Thời gian đào sâu và rộng mở trí thức. Đức Tin của tôi được cấu tạo chung quanh mầu nhiệm Đức Chúa GIÊSU KITÔ chết và sống lại vì phần rỗi loài người. Lòng nhiệt thành truyền giáo được phát triển trong một Giáo Hội Công Giáo vững chắc về Đức Tin và hăng say làm chứng tá. Trái tim tôi rộng mở nhờ tiếp xúc với các sinh viên đến từ mọi châu lục, vùng miền khác nhau. Tôi đặc biệt chân thành tri ân Cha Charles về bài học khiêm tốn của vị Linh Mục mà một ngày Cha đã dạy tôi.

Sau đó tôi trở lại Chủng Viện cho chu kỳ 4 năm. Lần này tôi học tại Học Viện Công Giáo Paris với các bậc thầy là các Linh Mục nổi tiếng như Cha Henri Cazelles (1912-2009), Cha André Feuillet (1909-1998), Cha de Broglies, Cha Henry, Cha Louis Bouyer (1913-2004), Cha Jean Daniélou (1905-1974)! Chính lúc này đây tôi mới thực sự chạm trán với nền thần học đích thực và hiểu rõ sự cần thiết cũng như các đòi buộc của một nền thần học chân chính.

Sau cùng thì vào năm 1959 .. tôi được thụ phong Linh Mục! Niềm vui trọng đại của lễ phục sinh! Niềm vui sâu xa khi trang trọng cử hành các Thánh Lễ đầu tay. Tôi hân hoan làm vị tiền hô Gioan Tẩy Giả giơ tay chỉ vào Đức Chúa GIÊSU KITÔ và nói: ”Người phải nổi bật lên còn tôi phải lu mờ đi” (Gioan 3,30). Một năm sau tôi được chỉ định làm giáo sư và Cha Linh Hướng trong Đại Chủng Viện. Niềm vui chen lẫn khó khăn đối với một Linh Mục trẻ tuổi bên cạnh các chủng sinh hờ hững với tầm quan trọng của việc trau dồi kiến thức nhưng nôn nóng mong mau đến ngày lăn xả vào công tác tông đồ .. Rồi một ngày trong tháng 6 tôi được gọi làm bí thư cho Đức Hồng Y Maurice Feltin (1883-1975) Tổng Giám Mục Paris.

Bốn năm trôi qua khi Đức Hồng Y đến tuổi về hưu, tôi trở lại làm Tuyên Úy cho các học sinh trung học, đúng vào thời điểm sôi động của biến cố 68! Sau đó, tôi được chuyển về làm việc mục vụ nơi đền thờ Thánh Tâm Montmartre (thuộc quận 18 của thủ đô Paris). Linh Mục quản đốc đền thánh có nhãn quan thiêng liêng được đào sâu trong việc chiêm ngắm các kho tàng châu báu đời sống nội tâm của Đức Chúa GIÊSU KITÔ (Thánh Tâm) và kết hiệp với các mầu nhiệm của Chúa xuyên qua việc Chầu Thánh Thể. Ngay tức khắc, tôi cảm thấy mình hiệp thông sâu xa với Nhóm Linh Mục làm việc dưới sự điều động vừa linh hoạt vừa nghiêm chỉnh của Vị Quản Đốc đền thánh. Phương châm cho đoàn Linh Mục chúng tôi là: ”Thần Học, Cầu Nguyện, Tông Đồ”. Riêng tôi đảm nhận nhóm các bà có nhiệm vụ luân phiên giữ các giờ chầu Thánh Thể. Tôi cũng phụ trách nhóm các bạn trẻ làm việc cho đền thánh. Trong vòng 11 năm tôi đã nhìn thấy nẩy sinh 40 ơn gọi nam và nữ.

Thế rồi, theo lời yêu cầu của Đức Ông quản đốc đền thờ Thánh Tâm, tôi ra đi khai phá để thử tìm hiểu về một Phong Trào vừa xuất hiện trong Giáo Hội Công Giáo với các Nhóm Cầu Nguyện gọi là ”Canh Tân Trong Thánh Linh” hoặc ”Canh Tân Đặc Sủng”. Ngoài niềm vui chia sẻ lời kinh chúc tụng ngợi khen và sự giản dị trong mối quan hệ huynh đệ tức khắc lôi cuốn nhập cuộc, tôi tìm thấy mối hiệp thông sâu xa và thành hình điều mà từ rất lâu nay tôi hằng tìm kiếm (nhất là qua giáo huấn của các Giáo Phụ hy lạp):sự biểu dương quyền năng của Chúa Thánh Linh. Tại đền thờ Thánh Tâm chúng tôi nói: ”Trái Tim Đức Chúa GIÊSU KITÔ .. nơi phát ra Chúa Thánh Linh”; thì giờ đây tại Cộng Đoàn Emmanuel (Cộng Đoàn của phong trào Canh Tân Đặc Sủng nơi tôi được tiếp nhận) người ta lại nói: ”Chúa Thánh Linh .. Đấng phát ra từ Trái Tim Đức Chúa GIÊSU KITÔ”. Và rồi tất cả cùng gặp nhau tại .. Paray-le-Monial!

Đọc đến đây có lẽ một số quí vị thắc mắc tại sao tôi phải dài dòng kể lể tiểu sử cuộc đời tôi??? Thưa, trước hết là để dâng lời cảm tạ THIÊN CHÚA Đấng Duy Nhất đã dẫn đưa mọi sự và từ rất lâu đã chuẩn bị tôi cho cuộc gặp gỡ đáng sợ với Satan. Tiếp đến là để minh định như tôi đã nói ngay khi vào đề: Chả có gì sắp xếp trước để tôi có cuộc gặp gỡ với Satan cả! Bởi lẽ, tôi vốn tính không lo âu quá đáng, không hề nghiêng về các hiện tượng dị thường, bệnh hoạn, cũng không mấy ngây-ngô khờ-khạo với các cảm xúc mang vẻ tri thức! Không! Tôi không dễ rơi vào các cạm bẫy của chấn-động, của giật-gân!!!

2. Cuộc Gặp Gỡ Với Satan

Tháng 7 năm 19... tại Paray-le-Monial. Vào buổi chiều mùa hè năm ấy, nơi khóa họp của phong trào Canh Tân Đặc Sủng do Cộng Đoàn Emmanuel tổ chức, tôi có thể chọn một trong nhiều nơi họp khác nhau. Chỉ thuần túy vì tò mò, tôi chọn nhóm được linh hoạt bởi cô Emmanuelle (sau này trở thành nữ tu Emmanuelle trong Cộng Đoàn Bát Phúc). Đó là buổi ”cầu nguyện giải thoát”. Đây là cái gì vậy cà??? Tôi hoàn toàn mù tịt nên với tâm trạng vừa kinh-ngạc vừa đa-nghi tôi đứng im lắng nghe chứng từ của cô thiếu nữ và cuộc đối thoại sau đó với những người tụ tập chung quanh cô. Từng là độc giả trung thành của tờ “Supplément” (nguyệt san chuyên về đạo đức học và thần học luân lý) cũng như nhiều sách báo khác, thường cố gắng trình bày mối liên hệ giữa đời sống tâm linh với các khoa học nhân văn, nên tôi không bao giờ có ý tưởng (vì nó có vẽ xa xưa của thời Trung Cổ) là quy gán cho nguồn gốc quỷ dữ những khó khăn tâm linh. Bởi vì, đối với tôi, những khó khăn tâm linh đúng ra chỉ nằm trên bình diện tâm lý học hay cùng lắm là phân tâm học hoặc tâm bệnh học mà thôi (chứ không phải chuyện bị ma quỷ ám hại hay quấy phá!) ..

Sau đó - hơi mơ màng và dĩ nhiên không tin gì ráo trọi - tôi trở lại với công tác mục vụ nơi thủ đô Paris. Thế nhưng, những điều tôi nghe có lẽ đã đi vào chiều sâu tâm thức và tiếp tục hoạt động, khiến một ngày tôi phải đặt câu hỏi:

- Trường hợp của hai người tôi thường xuyên gặp gỡ để hướng dẫn thiêng liêng có các khó khăn mà tôi hầu như bất lực không giúp đỡ được, phải chăng các khó khăn này có mối ”liên hệ” bí hiểm nào đó với ma quỷ???
Tôi đem câu chuyện nói với cô Emmanuelle và cô đề nghị tôi cho cô gặp hai người này. Và đó là buổi ”cầu nguyện giải thoát” đầu tiên của tôi. Sau một hồi lâu tìm hiểu phân định, chúng tôi bắt đầu cầu nguyện .. Tôi lắng nghe cô Emmanuelle cầu nguyện chúc tụng rồi cô lớn tiếng mạnh mẽ ra lệnh cho các thần dữ rút lui, trong khi tôi cũng cố gắng cầu nguyện trong thinh lặng với trọn Đức Tin tôi có (nghĩa là có rất ít!). Bỗng chốc, cô Emmanuelle ngưng lại và nói với tôi:
- Bây giờ đến phiên Cha Georges, xin Cha tiếp tục!
Bị bất ngờ bắt buộc, tôi đành lao mình vào vòng Đức Tin!!!

Không có hiện tượng gì khác thường xảy ra, nhưng lần lượt người này rồi đến người kia - hai người do tôi ”hướng dẫn thiêng liêng” - được từ từ giải thoát và được chữa lành nội tâm. THIÊN CHÚA đích thân can thiệp mọi sự theo một thể thức khác, ngoài mức dự đoán của tôi, một vị Linh Hướng nhưng lại tưởng mình là tâm lý gia, muốn giải thích mọi chuyện trên bình diện tâm lý!!!

Vài tháng sau, tôi trở lại Paray-le-Monial. Lần này thì cô Emmanuelle chỉ định tôi như là nhân vật người ta có thể xin dẫn đầu buổi ”cầu nguyện giải thoát”. Nhờ đó tôi học hỏi nhiều điều khi cầu nguyện bên cạnh những người có những kinh nghiệm mà tôi không có. Tôi trông thấy họ sống những đặc sủng rất cần thiết cho một hoàn cảnh tương tự: cảm thông, phân định, tin tưởng, sức mạnh .. Ban đầu tôi chỉ tham dự bằng việc cầu nguyện trong thinh lặng, nhưng rất nhanh sau đó, tôi hiểu mình đã nhận được và phải thực thi ngay một đặc sủng chuyên biệt hầu giúp đỡ người đang gặp khó khăn để người này hiểu những gì đã xảy ra trong cuộc đời mình hầu có thể sống trong an bình và niềm tin vào chính giây phút cầu nguyện tha thiết ấy .. Nhưng tôi không bao giờ quên cái ngày mà tôi tham dự cách bất lực vào một buổi ”cầu nguyện giải thoát”. Tôi hoảng sợ vì nghi ngờ và cố gắng chống cự với những tư tưởng bán tín bán nghi. Tôi tự nhủ: ”Đây toàn là những người bị ảo tưởng .. Cái cô thiếu nữ này có lẽ nên đi gặp một nhà phân tâm học thật giỏi thì tốt hơn .. Ngay chiều nay mình sẽ lên xe lửa trở lại Paris!” .. Còn đang lẩm nhẩm suy tính như thế thì bất thình lình - hai người dẫn đầu buổi cầu nguyện giải thoát với trọn niềm tin và uy quyền - bỗng ngã lăn đùng nằm bất động dưới đất trước tràng cười như điên tỏ lộ vẽ thách thức và nhạo báng của cô thiếu nữ đang được cầu nguyện để được giải thoát. Ngay tức khắc, mọi nghi ngờ trong tôi biến mất, và được linh động bởi một ”Đức Tin không lưỡng lự”, tôi đích thân nhập cuộc, điều khiển buổi cầu nguyện mãi cho đến hồi kết thúc (khi cô gái được giải thoát!).

Một tháng sau, tôi có mặt tại Thánh Địa với một nhóm trẻ nơi đồi Jéricho, ngọn đồi Cám Dỗ. Chúng tôi cầu nguyện trong nguyện đường nhỏ của các Cha dòng Phanxicô dưới chân núi và tôi đọc cho tín hữu hành hương nghe đoạn Phúc Âm kể lại chuyện Đức Chúa GIÊSU KITÔ bị ma quỷ cám dỗ. Bỗng chốc có tiếng la hét trong sân tu viện. Tôi vội vã bước ra xem thì thấy một thiếu nữ của nhóm hành hương láng giềng đang nằm lăn lộn dưới đất mà thoạt đầu tôi nghĩ là cô lên cơn loạn thần kinh. Tôi đưa cô tách ra một nơi rồi cùng với mấy người bạn của cô tìm cách làm cô dịu lại nhưng không thành công. Chúng tôi liền bắt đầu cầu nguyện nhỏ tiếng cho cô. Tiếng la hét gia tăng gấp đôi và biến thành những lời lộng-ngôn ghê tởm khủng khiếp. Chính lúc ấy tôi bỗng nhớ lại những gì tôi đã trải qua ở Paray-le-Monial, tôi nhận được trong cầu nguyện Đức Tin cần thiết để dám làm cuộc ”cầu nguyện giải thoát”. Cơn điên loạn lịm tắt hầu như tức khắc và trong cầu nguyện, niềm an bình từ từ hồi phục, một niềm an bình mới mẻ. Đây là niềm an bình mà chỉ duy nhất THIÊN CHÚA mới có thể ban. Niềm an bình được thiết lập nơi cô thiếu nữ khiến cô cảm thấy như đứa con thơ bé nhỏ dưới cái nhìn của Đức Chúa GIÊSU KITÔ! Kể từ giây phút ấy, cô không hề bị lên cơn và có thể tiếp tục cuộc hành trình với toàn nhóm tín hữu hành hương. Một chặng đường thiêng liêng bắt đầu mở rộng trong cuộc đời cô. Dần dần tôi trông thấy cô tiến bước trong sự hiểu biết và trong Tình Yêu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ.
Trở về Paris, tôi tiếp tục các công tác mục vụ tông đồ như trước .. nhưng với một cái nhìn hoàn toàn đổi khác. Trong bối cảnh ngồi tòa ban bí tích giải tội cũng như trong việc hướng dẫn thiêng liêng, đôi khi tôi như cảm thấy một chút khó chịu bên trong khi hồi tưởng những gì đã sống vài tuần trước đây. Từ từ tôi nhớ lại tất cả giáo huấn của các bậc thầy tu đức của Giáo Hội Công GIáo liên quan đến cuộc chiến thiêng liêng và những quy tắc dành cho việc phân định tâm linh .. Tôi lăn mình vào - trước tiên trong lời cầu thinh lặng rồi đến kinh nguyện lớn tiếng bằng lời - tôi van xin THIÊN CHÚA giải thoát nạn nhân khỏi những mối liên hệ ràng buộc bí hiểm khiến họ bị tê liệt trong việc cầu nguyện .. hoặc khỏi những động lực thúc đẩy họ phải buông lời xúc phạm lộng ngôn. Rất nhiều lần tôi chứng kiến niềm an bình và tự do nội tâm được vãn hồi, đôi khi gần như tức khắc, nơi một người nam hoặc một người nữ, trước đó đầy bấn-loạn âu-lo đến xin tôi trợ giúp thiêng liêng. Thế rồi từ từ qua những đi-đi về-về giữa các kinh nghiệm mới mẻ này, suy tư về truyền thống Giáo Hội liên quan đến các vấn đề này và việc đào sâu các ánh sáng mà khoa học nhân văn có thể mang lại, tôi thấy việc phân định của tôi được khẳng định. Tôi cũng chia sẻ các khám phá này với vài Linh Mục của phong trào Canh Tân Trong Thánh Linh từng đi qua một chặng đường giống như tôi.
Trong thời gian này có một phụ nữ đến xin tôi giúp vượt qua các khó khăn bà gặp khi muốn cắt đứt với quá khứ và tiến bước với Đức Chúa GIÊSU KITÔ trên hành trình mới. Bị cha mẹ nghiện ngập bỏ rơi ngay từ nhỏ và được một người đàn bà cao niên có lòng tốt nâng đỡ trong thời niên thiếu nhưng sau đó bà phải lang thang vất vưởng trên các vĩa hè đường phố thủ đô Paris. Bị cuộc đời ngược đãi, bà đã dò dẫm tìm đến với ma-thuật. Sau cùng bà gặp một nhóm bạn bè tốt và họ đã đưa bà đi hành hương Thánh Địa. Từ đó bà chập-chờn lênh-đênh giữa tỉnh và mê, giữa tuyệt vời và khốn khổ, tùy theo trạng thái tâm linh. Có lúc bà bị hỗn loạn tâm thần. Có khi bà lại nồng nhiệt ao ước bước theo Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Nhưng rất thường khi bà bị xúi giục buông lời oán hận lộng-ngôn hoặc nhạo báng chế diễu đúng như một tên quỷ sứ! Cứ mỗi lần như thế tôi cảm thấy bất lực và vô phương cứu giúp bà! Mãi cho đến một ngày, tôi khẩn khoản khiêm tốn van nài Đức Chúa GIÊSU KITÔ cứu giúp và tôi đã nhận được sức mạnh của Đức Tin, đủ để thêm một lần nữa, dám truyền lệnh ”nhân danh Đức Chúa GIÊSU KITÔ” cho thần dữ đang cầm buộc bà trong nanh vuốt của những ràng buộc, mưu kế và xúi giục của hắn. Một lúc lâu sau đó tôi bỗng có ý nghĩ dùng đến Nước Thánh. Đang giữa mùa đông giá buốt và bà mặc chiếc áo khoác ngoài bằng len thật dày, vậy mà khi tôi vừa bắt đầu thì thầm đọc ”Kính Mừng MARIA”, bà liền tẩu thoát nơi tận cuối góc phòng và co-rúm trong thái độ hoảng sợ kinh hoàng, mặt úp vào tường và bịt kín hai lỗ tai. Tôi tức tốc mở ngăn kéo lấy cây rảy Nước Thánh nhỏ và rảy lên bà vài giọt Nước Thánh nhẹ thật nhẹ. Bà không thể nào trông thấy cử chỉ của tôi cũng không thể nào cảm được mấy giọt Nước Thánh thật mịn chạm vào lưng chiếc áo khoác ngoài bằng len của bà! Vậy mà, bà tức khắc rú lên những tiếng rống kinh hoàng, khiến người nghe không thể nào quên ngay được. Ngày hôm ấy, tôi đã phải chiến đấu ròng rã thật lâu trong kinh nguyện với ”tên quỷ” nhất định không muốn tháo lui. Bà càng rống to hơn ngay khi tôi đặt lên người bà Cây Thánh Giá .. Sau cùng, cuộc giải thoát thành tựu và bà có thể ra về nhẹ nhõm, bình an trong niềm vui của đời sống cầu nguyện được tìm thấy trở lại.

Sau biến cố trên đây tôi quyết định làm một bước đi mới. Tôi xin gặp vị Linh Mục trừ quỷ của Tổng Giáo Phận Paris. Ngài là cựu thừa sai tại Sri Lanka, nơi ngài từng gặp rắc-rối với Satan. Ngài lắng nghe tôi kể lại tất cả các biến cố đã trải qua và trường hợp của ”người phụ nữ bị quỷ ám”. Sau cùng ngài đề nghị tôi đưa bà đến gặp ngài. Sau một hồi lâu nói chuyện với bà, ngài đi đến kết luận giống như tôi nên đưa bà vào nhà nguyện để cử hành nghi thức trừ quỷ. Ngay khi Cha xướng kinh cầu nguyện, bà đứng cứng đơ rồi vùng vẫy, buông lời lộng ngôn phạm thương với những câu nói thóa mạ vô cùng ghê tởm. Bà càng rống to hơn khi Cha tìm cách đặt lên người bà Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Tôi phải tận dụng mọi sức lực mới có thể giữ bà đứng yên. Sau cùng thì bà dịu lại và ra về trong niềm hạnh phúc và bình an .. mãi cho đến ngày bà trở lại gặp tôi với dáng điệu vừa khổ sở van xin vừa tỏ vẻ thù oán thách thức mà giờ đây tôi bắt đầu biết quá rõ .. Tôi liền liên lạc và xin hẹn với vị Linh Mục trừ quỷ. Đúng là cuộc chiến đấu đầy cam-go và dai-dẳng kéo dài trong mấy năm trời cho đến khi đạt được cuộc giải thoát chung kết, cho phép bà có một cuộc sống vừa nhân bản vừa thiêng liêng bình thường.

Trong khoảng thời gian này, từ khắp nơi người ta xin tôi trợ giúp những người gặp khốn-khổ vì các loại sự dữ tương tự như trên. Với một số người, tôi thường gởi đi chữa trị với những phương thuốc mà tôi nghĩ là thích hợp, đồng thời vẫn tháp tùng bằng những trợ giúp thiêng liêng mà mọi tín hữu Công Giáo đều có quyền mong đợi nơi một thừa-tác-viên của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Với một số khác, tôi thường chữa trị bằng một hay nhiều buổi ”cầu nguyện giải thoát”, đôi khi thêm một buổi ”trừ quỷ ngắn của Đức Lêô XIII” thể theo lời khuyên của vị Linh Mục trừ quỷ. Với một số người khác nặng hơn thì tôi đưa họ đến cho vị Linh Mục trừ quỷ, cho đến một ngày, ngài bảo chính tôi phải làm các buổi trừ quỷ, rồi sau đó kể lại cho ngài nghe. Tôi đã thi hành đúng như ngài chỉ dẫn. Nhưng rồi đứng trước việc gia tăng quá nhiều trường hợp cần trợ giúp, tôi đích thân đến trình bày với vị Tổng Đại Diện rồi với vị Giám Mục bản quyền. Các biến cố này kéo dài trong vòng nhiều năm trời và trong thời gian này tôi được mời tham dự buổi họp hàng năm của các vị Linh Mục trừ quỷ của giáo phận. Sau cùng, Đức Giám Mục thông báo cho tôi biết ngài đã chỉ định một Linh Mục trừ quỷ khác thay thế cho vị Linh Mục tôi từng quen biết.
Như vậy, đến đây chấm dứt thừa-tác-vụ chính thức của tôi với tư cách Linh Mục trừ quỷ. Chấm dứt thừa-tác-vụ nhưng không chấm dứt những suy tư của tôi về các vấn đề đau thương liên quan đến sự dữ, đến sự hiện hữu của Satan của ma quỷ và những quấy phá ám hại của chúng.

... Trên đây là chứng từ của Cha Georges Morand p.s.s, trích từ cuốn sách do Cha viết: ”Sors de cet homme, SATAN! - Hãy ra khỏi người này, Satan!” nơi chương thứ I: ”Satan existe, je l'ai rencontré - Satan hiện hữu, tôi đã gặp hắn” từ trang 13 đến trang 29. Sách do nhà xuất bản Fayard phát hành vào tháng Hai năm 1994. Cha Georges Morand chào đời ngày 23-1-1930 tại thủ đô Paris (quận V) và qua đời ngày 28-1-2014 tại Toulouse, miền Nam nước Pháp. Cha được thụ phong Linh Mục ngày 28-3-1959, Đêm Vọng Lễ Phục Sinh, cho Tổng Giáo Phận Paris nhưng sau đó Cha gia nhập Hội Xuân Bích.

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt